Tổng Hợp

Danh hiệu Đại kiện tướng cờ vua là gì?

GM, IM, FM là những danh hiệu mở cho cả kỳ thủ nam và nữ. Vào năm 1978, Nhà Vô địch Cờ vua Nữ Nona Gaprindashvili trở thành kỳ thủ nữ trước nhất đạt danh hiệu “Đại kiện tướng”, thông qua một quyết định đặc biệt của FIDE. Kỳ thủ nữ trước nhất thực sự đạt chuẩn “Đại kiện tướng” nhờ việc thi đấu thành công là Susan Polgar vào năm 1991. Từ năm 2000, phần lớn top 10 nữ đều đạt danh hiệu “Đại kiện tướng”. Một danh hiệu khác chỉ dành cho nữ, “Đại kiện tướng nữ” (WGM) cũng thường được sử dụng. Danh hiệu tiếp theo được trao cho kỳ thủ nữ đạt trình độ cao hơn “Kiện tướng FIDE” (FM) nhưng thấp hơn “Kiện tướng Quốc tế” (IM).

Một khi đã đạt được, danh hiệu này được giữ vĩnh viễn. Trong các văn bản chính thống, “Đại kiện tướng” thường được viết tắt là “GM” (Grandmaster); “IM” là “Kiện tướng quốc tế (International Master); “FM” là “Kiện tướng FIDE” (FIDE Master) và “CM” là “Dự bị kiện tướng” (Candidate Master). Cụm từ “Đại kiện tướng quốc tế” (“IGM” – viết tắt của “International Grandmaster”) cũng được sử dụng, thường trong các văn bản cũ.

Danh hiệuđược trao tặng cho các kỳ thủ cờ vua mạnh bởi Liên đoàn Cờ vua Toàn cầu (FIDE). Trừ danh hiệu Vô địch Cờ vua Toàn cầu , đây là danh hiệu cao nhất mà một kỳ thủ có thể đạt được.

 Lewis sau đó đề cập đến 


Khoảng cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20

Cụm từ “Đại kiện tướng” được sử dụng lần đầu là ở bài báo năm 1938 của Bell’s Life , đề cập đến Wiliam Lewis là “Đại kiện tướng trong quá khứ của chúng ta”.Lewis sau đó đề cập đến Philidor là một Đại kiện tướng. Cụm từ này sau đó cũng được sử dụng với một vài kỳ thủ khác.

Tại giải Ostend năm 1907, cụm từ “Đại kiện tướng” (“Großmeister” trong tiếng Đức) được sử dụng. Giải đấu được chia làm hai phần: Giải Vô địch (the Championship) và giải Kiện tướng (the Masters). Giải Vô địch dành cho các kỳ thủ đã từng vô địch một giải đấu quốc tế trước đó.[2] Siegbert Tarrasch vô địch giải này, vượt qua Carl SchlechterDawid JanowskiFrank MarshallAmos Burn và Mikhail Chigorin. Những kỳ thủ này đều được coi là Đại kiện tướng.Giải San-Sebastián 1912 được vô địch bởi Akiba Rubinstein là một giải nhằm xác nhận các Đại kiện tướng. Rubinstein vô địch với 12½/19 điểm. Đồng hạng hai là Aron Nimzowitsch và Rudolf Spielmann.[3]Vì một vài nguyên nhân, tại Giải Cờ vua St.Petersburg 1914, danh hiệu “Đại kiện tướng” được chính thức trao tặng bởi Tsar Nicholas II, một trong những người tài trợ giải đấu.[2] Sa hoàng Tsar Nicholas đệ nhị trao tặng danh hiệu cho 5 kỳ thủ:Emanuel LaskerJosé Raúl CapablancaAlexander AlekhineSiegbert Tarrasch, và Frank Marshall (lần lượt là 3 Nhà Vô địch Cờ vua Toàn cầu, 2 kỳ thủ cuối là 2 người đã thất bại trong trận tranh chức Vô địch Toàn cầu trước Lasker). Điều này được đề cập đến trong nội dung của Robert Lewis Taylor vào 15 tháng 6 năm 1940, nội dung của “The New Yorker” và cuốn tự truyện của Marshall “My 50 Years of Chess”.[4][5][6]


Những cách sử dụng không chính thức và cách sử dụng ở Liên Xô trước 1950

Trước 1950, cụm từ “Đại kiện tướng” thường được biết tới không chính thức dùng để chỉ các kỳ thủ đạt đẳng cấp toàn cầu. Liên đoàn Cờ vua Toàn cầu (FIDE) được lập tại Paris năm 1924 nhưng không đặt ra các tiêu chuẩn về danh hiệu “Đại kiện tướng”.Năm 1927, Liên đoàn Cờ vua Liên bang Xô viết sáng lập danh hiệu “Đại kiện tướng của Liên bang Xô Viết” cho những kỳ thủ Liên Xô. Thời kỳ này, các kỳ thủ Liên Xô không tham gia các trận đấu nằm ngoài lãnh thổ Liên Xô. Danh hiệu này bị huỷ bỏ năm 1931, sau khoảng thời gian được trao cho Boris Verlinsky, kỳ thủ dành chức vô địch tại Giải Vô địch Cờ vua Liên Xô.[7] Danh hiệu này được trao tặng trở lại vào năm 1935 cho Mikhail Botvinnik – Đại kiện tướng chính thức trước nhất của Liên Xô. Verlinsky không được trao lại danh hiệu này.


Danh hiệu chính thức (Từ 1950 trở đi)

Khi FIDE được tái lập sau Chiến tranh Toàn cầu IIFIDE đặt ra các quy định về các danh hiệu quốc tế. Danh hiệu được trao tặng thông qua nghị quyết của Ủy ban the FIDE General Assembly and the Qualification. FIDE trao tặng danh hiệu Đại kiện tướng năm 1950 cho 27 kỳ thủ. Đó là những kỳ thủ:

Vì FIDE không truy tặng danh hiệu “Đại kiện tướng” nên những kỳ thủ mất trước năm 1950, bao gồm những Nhà Vô địch Toàn cầu Wihelm SteinitzEmanuel LaskerJosé Capablanca và Alexander Alekhine, không được nhận danh hiệu này.[8]


Điều khoản năm 1953

Việc trao tặng danh hiệu với những điều lệ cũ đã gây ra một số vấn đề liên quan đến chính trị. Efim Bogoljubov, kỳ thủ di cư từ Liên Xô sang Đức đã không được mời trong sự kiện trao tặng danh hiệu “Đại kiện tướng” trước nhất của FIDE, dù ông chơi 2 trận trong Giải Vô địch Cờ vua Toàn cầu với Alekhine. Ông được trao tặng năm 1951 do một buổi bỏ phiếu kín với 8/13 phiếu tán thành việc này. Nam Tư ủng hộ quyết định đó nhưng toàn bộ những nước Xã hội chủ nghĩa còn lại đều không tán thành. Năm 1953, FIDE hủy bỏ những quy định cũ, cho dù điều khoản quy định trao tặng danh hiệu cho những kỳ thủ có tuổi vẫn được giữ lại. Những quy định mới về danh hiệu “Đại kiện tướng Quốc tế” của FIDE thỏa mãn một trong các tiêu chuẩn sau::[9]

  1. Vô địch Toàn cầu.
  2. Kỳ thủ đủ tiêu chuẩn tham gia giải Candidates. Hoặc kỳ thủ thế chỗ kỳ thủ vắng mặt và đạt được ít nhất 50% số điểm.
  3. Kỳ thủ vô địch một giải đấu quốc tế thỏa mãn các điều kiện đặc biệt hoặc kỳ thủ đứng thứ hai trong hai giải đấu quốc tế trong vòng 4 năm. Các giải đấu này phải có ít nhất 11 vòng với ít nhất 7 kỳ thủ tham gia, 80% là “Đại kiện tướng Quốc tế” hay “Kiện tướng Quốc tế“. Đồng thời 30% số kỳ thủ tham gia phải là Đại kiện tướng có quyền tham gia giải Candidates hoặc từng tham gia giải này trong vòng 10 năm.
  4. Kỳ thủ chứng tỏ được năng lực của mình ngang bằng với các Đại kiện tướng trong các trận đấu hoặc giải đấu quốc tế. Danh hiệu này được trao tặng bởi Ủy ban Chứng thực nếu có được sư tán thành của ít nhất 5 thành viên.


Điều khoản năm 1957

Sau khoảng thời gian FIDE đặt ra các điều lệ 1953, có một số ý kiến cho rằng các điều lệ này không thực sự thích hợp. Do đó FIDE tiến hành sửa đổi các quy định. Đại hội FIDE ở Viên năm 1957 đặt ra các điều lệ mới, được gọi là hệ thống FAV, được chấp thuận bởi các trọng tài quốc tế Giovanni Ferrantes (Ý), Alexander (có vẻ là Conel Hugh O’Donel Alexander) và Giancarlo Dal Verme (Ý). Với các điều lệ năm 1957, danh hiệu “Đại kiện tướng Quốc tế” của FIDE được tự động trao tặng với:

  1. Vô địch Toàn cầu.
  2. Bất kể kỳ thủ nào giành quyền tham gia giải Candidates từ giải Interzonal, kể cả nếu không tham gia giải Candidates vì bất kể nguyên nhân nào.
  3. Bất kể kỳ thủ nào giành quyền tham gia giải Candidates từ giải Interzonal nhưng không được tham gia vì hạn chế số kỳ thủ tối đa tham gia với một liên đoàn cờ vua.
  4. Bất kể kỳ thủ nào tham gia giải Candidates và giành ít nhất 

    33

     

    1⁄3

     số điểm tối đa.

Các kỳ thủ cũng được Đại hội FIDE trao tặng danh hiệu này nếu được Ủy ban Chứng thực giới thiệu. Sự giới thiệu được dựa trên hiệu suất thi đấu trong một giải đấu với một số điểm nhất định tùy thuộc vào số Đại kiện tướng và Kiện tướng tham gia giải đấu đó.[10]


Điều khoản năm 1965

Các mối lo ngại dấy lên khi các điều lệ 1957 quá lỏng lẻo. Tại Đại hội FIDE năm 1961, GM Milan Vidmar cho rằng các điều lệ này “khiến một số kỳ thủ không thật sự xuất sắc được nhận danh hiệu này”. Tại Đại hội 1964 ở Tel Aviv, một tiểu ban đã được lập với mục đích thay đổi các điều lệ. Tiểu ban nay đề xuất việc tự động trao danh hiệu cần phải bị hủy bỏ và yêu cầu có một sự thay đổi về thành phần trong Ủy ban Chứng thực. Một vài đại biểu tán thành các đề xuất của tiểu ban, bao gồm GM Miguel Najdorf, người cho rằng các điều lệ hiện tại sẽ kéo theo một sự lạm phát các danh hiệu. Tại Đại hội FIDE 1965 ở Wiesbaden, FIDE mang ra các quy định chuẩn về các danh hiệu. Các điều lệ về danh hiệu “Đại kiện tướng Quốc tế” là:

  • 1. Bất kể Nhà Vô địch Toàn cầu nào cũng được tự động trao tặng danh hiệu Đại kiện tướng.
  • 2a. Bất kể kỳ thủ nào giành được ít nhất 40% số điểm trong trận đấu tứ kết tại giải Candidates.
  • 2b. Giành được ít nhất một số điểm nhất định trong một giải đấu bao gồm 55% số điểm trước các Đại kiện tướng và 75% trước các Kiện tướng và 85% trước các kỳ thủ còn lại (một chuẩn Đại kiện tướng)

Để thỏa mãn yêu cầu 2b, ứng viên phải dành một chuẩn Đại kiện tướng trong một giải đấu loại 1a hay 2 chuẩn trong vòng 3 năm với 2 giải đấu loại 1b, hoặc 1 giải loại 2a và 1 giải loại 1b.

Loại giải đấu bao gồm:

  • 1a – Có ít nhất 16 kỳ thủ, ít nhất 50% là GM, ít nhất 70% là IM
  • 1b – Có ít nhất 12 kỳ thủ, ít nhất 

    33

     

    1⁄3

     là GM và 70% là IM

  • 2a – Có ít nhất 15 kỳ thủ, ít nhất 50% là IM
  • 2b – Từ 10 đến 14 kỳ thủ, ít nhất 50% là IM.

Vì các danh hiệu FIDE là mãi mãi, các GM hoặc IM không được tính nếu kỳ thủ đó không có một kết quả GM hoặc IM trong một giải đấu trong vòng 5 năm.

Ngoài ra, không có nhiều hơn 50% cộng 1 kỳ thủ cùng quốc tích trong một giải đấu gồm từ 10 đến 12 kỳ thủ, hoặc không có 50% cộng 2 kỳ thủ cùng quốc tịch trong giải đấu to hơn.

74 danh hiệu GM đã được trao trong giai đoạn 1951 và 1968. Trong khoảng thời gian này, 10 danh hiệu GM được trao năm 1965 nhưng chỉ 1 vào năm 1966 và 1968.[11]


Điều khoản năm 1970

Các điều lệ trao tặng các danh hiệu 1970 của FIDE được rút ra từ sự đề xuất “Dorazil”, được trình bày tại Olympiad Cờ vua thứ 19. Đề xuất này được tiến sĩ Wilfried Dorazil (sau này là phó chủ tịch FIDE) và các thành viên trong ủy ban gồm Đại kiện tướng Svetozar Gligorić và Giáo sư Arpad Elo cùng nhau thảo luận. Các đề xuất này sau đó đều được thông qua.[12]

Thực chất, đề xuất này được giáo sư Elo xây dựng dựa trên hệ thống Elo do chính ông phát minh ra. Với việc mỗi kỳ thủ có một hệ số Elo riêng nhận xét trình độ của chính mình, việc phân loại các giải đấu cũng trở nên dễ dàng hơn, dựa trên trung bình hệ số Elo của các kỳ thủ. Ví dụ, một giải đấu thuộc loại 1 nếu trung bình Elo của các kỳ thủ nằm trong khoảng 2251-2275. Tương tự, giải đấu loại 2 thuộc khoảng 2276-2300. Giải đấu thuộc loại càng cao thì càng có nhiều kỳ thủ mạnh tham gia.

Một yếu tố trọng yếu khác trong việc trao tặng các danh hiệu là các kỳ thủ phải vượt qua một số điểm nhất định để chứng tỏ họ ở mức Đại kiện tướng (GM) hoặc Kiện tướng (IM). Điểm được tính bằng phần trăm của số điểm giành được với số điểm tối da trừ đi một số thích hợp, do đó phản ánh thực lực của một kỳ thủ.

Người tổ chức giải đấu có thể vận dụng tỉ lệ phần trăm này cho giải đấu của riêng họ và mang ra một số điểm nhất định mà kỳ thủ cần phải đạt được nếu muốn có kết quả Đại kiện tướng hoặc Kiện tướng (được coi là một chuẩn Đại kiện tướng)

Loại giải đấu
Elo trung bình
Điểm (GM)
Điểm (IM)

1
2251–2275
85%
76%

2
2276–2300
83%
73%

3
2301–2325
81%
70%

4
2326–2350
78%
67%

5
2351–2375
76%
64%

Loại giải đấu
Elo trung bình
Điểm (GM)
Điểm (IM)

6
2376–2400
73%
60%

7
2401–2425
70%
57%

8
2426–2450
67%
53%

9
2451–2475
64%
50%

10
2476–2500
60%
47%

Loại giải đấu
Elo trung bình
Điểm (GM)
Điểm (IM)

11
2501–2525
57%
43%

12
2526–2550
53%
40%

13
2551–2575
50%
36%

14
2576–2600
47%
33%

15
2601–2625
43%
30%

Để đạt được danh hiệu Đại kiện tướng, một kỳ thủ phải giành được 3 chuẩn GM trong 3 năm, ngoại trừ trường hợp nếu số trận đấu trong một giải đấu của một kỳ thủ không ít hơn 30 trận, khi đó có thể chỉ cần 2 chuẩn Đại kiện tướng để được trao danh hiệu. Cũng có những trường hợp ngoại lệ khi hệ thống tính điểm phải thay đổi đề thích hợp, như với các giải đấu đồng đội.

Đề xuất này bao gồm nhiều luật lệ và quy định, bao gồm:

  • Quy định về tiêu chuẩn của một giải đấu.
  • Quy định về tiêu chuẩn của kỳ thủ có đủ tư cách tham gia một giải đấu.
  • Quy định về những kỳ thủ chưa được xếp hạng (chưa có hệ số Elo).
  • Quy định về việc đăng ký tham gia một giải đấu của FIDE.
  • Các quy tắc tính toán vận dụng cho hệ thống Elo, phân loại giải đấu,…
Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Kĩ Năng Sống

Xem Thêm :   Lời chúc Valentine hay nhất, ngọt ngào và chân thành nhất

Xem thêm :  Các Hãng Phim Hoạt Hình Nổi Tiếng Thế Giới

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button