Tổng Hợp

Hình tượng con hổ trong văn hóa (2022) ❎ mộc media ❎


Tượng hổ tại Paris

Dẫn luận

Bài chi tiết: Hổ

Hổ là động vật biểu tượng cho sức mạnh và sự hung hãn trong nhiều nền văn hóa và được mệnh danh là Chúa tể của rừng núi hay Chúa sơn lâm

Một con hổ đang thư giãn

Loài hổ phân bố chủ yếu ở vùng châu Á với nhiều nòi khác nhau trong đó có năm phân loài còn tồn tại đến ngày nay. Hổ là đối tượng phổ biến của các loại hình văn hóa nghệ thuật truyền thống và hiện đại, là đối tượng trung tâm của nhiều truyền thuyết, huyền thoại kỳ vĩ, được tạo dựng và tồn tại sâu đậm trong tâm trí con người qua hàng ngàn năm. Với vẻ đẹp nổi bật rực rỡ bởi bộ da, thân hình lượn sóng, vằn vện và khỏe, uyển chuyển và kiêu hùng của hổ là đề tài hấp dẫn xưa nay của nhiều ngành mỹ thuật, hội họa, đúc nặn, điêu khắc, nhiếp ảnh. Chuyển động, hình dáng, thần thái của hổ (gọi là ) được thể hiện trong hội họa, điêu khắc, phong thủy, võ thuật và là một thế cơ bản trong thư pháp (nghệ thuật viết chữ đẹp) của người phương Đông. Hổ có dáng đi đặc trưng được gọi là , bốn chân khi đi rất khoan thai, nhưng chắc chắn, mỗi bước chân đặt xuống đất thì các xương cốt, cơ bắp trên phần thân thể đều lộ ra. Là động vật có những khả năng vượt trội như phi nhảy, chạy, bơi, tính nhạy cảm, hổ trở thành đối tượng nghiên cứu hữu ích cho các nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực, rất nhiều vườn thú lớn trên thế giới ngày nay đều nuôi hổ phục vụ nhu cầu tham quan, chiêm ngưỡng của người xem.

Với việc gắn bó tương đối sâu sắc và từ lâu đời với các dân tộc ở châu Á, với sức mạnh, sự uy quyền, vẽ đẹp bí ẩn đồng thời với sự phá hoại, tinh ranh đã để lại hình ảnh sâu đậm trong văn hóa của các dân tộc châu Á nhất là các dân tộc Phương Đông. Sự giao thoa giữa các nền văn hóa, các nên văn minh với nhau tạo điều kiện cho hình ảnh con hổ được tiếp cận với văn hóa Tây Phương theo cách nhìn nhận của người phương Tây, và ngày nay hình ảnh hổ được phổ biến rộng rãi trên thế giới. Cái nhìn về hổ trong văn hóa đại chúng của các dân tộc khác nhau trên thế giới hình ảnh con hổ trong thế giới này nay tuy muôn vẻ và đa dạng nhưng có những điểm chung đó là vừa sùng bái, ngưỡng mộ trước sức mạnh, sự hung hãn vẽ đẹp bí ẩn nhưng vừa sợ hãi, khinh ghét, hắt hủi, cũng như cách nhìn của thế giới hiện đại ngày nay hổ đã trở nên ngộ nghĩ, đáng yêu hơn.

Ngày nay, không gian sinh tồn của hổ ngày càng trở nên thu hẹp, và số lượng hổ ngày càng giảm dần do nạn săn bắt trái phép. Hổ đã không còn là mối hiểm họa của con người nữa, ngược lại chúng đã và đang bị con người đưa đến thảm họa tuyệt chủng trên phạm vi toàn cầu và đã có tên trong sách đỏ. Từ một biểu tượng cho sức mạnh thiêng liêng, huyền bí của rừng xanh, hổ đã trở thành biểu tượng cho lời kêu gọi bảo vệ đa dạng sinh học, cân bằng sinh thái. Ngày 28 tháng 7 năm 2009 tại thủ đô New Delhi của Ấn Độ hơn 2.000 sinh viên đã vẽ mặt mình như hổ, tuần hành và xếp thành hình hổ để kêu gọi mọi người bảo vệ loài động vật quý đang bị giảm sút nhanh ở quốc gia này đồng thời lập kỷ lục số người hóa trang thành hổ đông nhất.

Văn hóa Phương Đông

Trong văn hóa châu Á, hổ là một linh vật trong 12 con giáp và tượng trưng cho sức mạnh và trở thành một biểu tượng trong nền văn hóa cổ phương Đông, có rất huyền thoại, sự huyền bí về hổ. Trong tâm thức người dân phương Đông thì hổ vẫn là một ác thú, nó hung hãn nhất trong 12 con giáp dù rằng về sự khôn ngoan, nó không thể sánh với khỉ và chuột, sự kiên trì, có thể không sánh với trâu, nhanh không bằng ngựa, uy vũ không so sánh bằng Rồng, luồn lách và hiển độc không thể bằng rắn nhưng, trong 12 con thú, hổ hội đủ các đặc chất như dũng mãnh, can trường, hiên ngang, dám tấn công cả những con thú to khỏe hơn nó. Nhờ những đặc chất ấy mà cọp là một trong những loài trở thành biểu tượng của sự hùng cường và sức mạnh vô song, vì thế nó được con người thần thánh hóa bởi nhiều nước đưa hổ vào đời sống xã hội, văn hóa, và nghệ thuật. Đặc biệt là trong rừng, không có một con vật nào sao chép được sự uy dũng của Hổ, đó chính là tức là, khi con Hổ về già xấu xí nằm yên một chỗ nhưng hùng tâm của Hổ vẫn còn, chẳng một con vật nào dám qua mặt. Đây là ý dân gian muốn ca ngợi những vị anh hùng tuy tuổi đã cao, nhưng khí phách hào khí vẫn không bị mất đi, vì thế chẳng một ai dám xem thường…

Hổ Amur giữa tuyết mùa đông

Với người phương Bắc thì hổ còn là biểu tượng cho quyền uy, sự dũng mãnh nơi chiến địa và Hổ trắng là hình ảnh của đấng minh quân đồng thời tượng trưng cho sức mạnh, uy quyền của vị tướng quân dũng mãnh, can trường. Chính vì thế hổ thường là đại diện và biểu trưng cho các vị tướng lĩnh, quân đội, các lực lượng quân sư, những vũ khí chiến tranh. Ở Việt Nam có truyền thuyết, vị tướng họ Hùng có công đánh đuổi giặc Ân do bà mẹ hổ sinh ra (ngày nay đền Trình ở thắng cảnh Hương Sơn thuộc Mĩ Đức, Hà Nội còn thờ vị thần hổ này và được hương khói khắp bốn mùa). Truyện Tam quốc có Ngũ hổ tướng, trong Truyện Kiều có nhắc nhiều về hổ và liên quan đến Từ Hải. Hoàng Hoa Thám được mệnh danh là Hùm thiêng Yên Thế. Các võ tướng ngày xưa có phù hiệu, ấn tín khắc hình đầu hổ, gọi là hổ phù. Các đình chùa, miếu mạo thường chạm khắc hình hổ, thể hiện sự linh thiêng, bất khả xâm phạm.

Trong tâm thức của nhiều dân tộc, hổ được coi là quái vật của bóng tối và tuần trăng mới, hổ cũng là một trong những hình tượng của thượng giới và thế giới được đồng nhất với mặt trăng tái hiện. Hổ còn là ông tổ của một số thị tộc. Hình ảnh con hổ trong đời sống người châu Á đã ăn sâu trong tâm thức, những đặc tính của hổ được so sánh với những gì được cho là tốt, mạnh mẽ trong đời sống hàng ngày như: (chỉ về đạo lý làm người, tình cảm mẫu tử), (nói về danh dự), (chỉ về ăn khỏe), (chỉ về sự hoàn thiện của một cơ thể đầy sức mạnh) (dáng đi như hổ), (chỉ về địa thế đẹp), (chỉ sự tự hào khi có thế hệ tiếp nối), (chỉ về đối thủ ngang tài ngang sức) hoặc còn nói khá nhiều trên bình diện quan trọng trong một đời sống xã hội với thiết chế xã hội như …

Hổ còn được tôn thờ và là hình tượng phổ biến đầy ấn tượng trong đời sống dân gian của người Việt với tục thờ hổ hay thờ thần hổ ở nhiều vùng miền. Hình tượng hổ bên cạnh mang sự quyền uy còn đáng nể cùng với nhận thức về công năng y tế và mỹ thuật khiến hổ sở hữu một những phẩm chất để có thể trở thành một linh vật của tôn giáo. Hổ chiếm toàn bộ vũ trụ, ngự 5 phương, được gọi là . Đạo mẫu đã lấy con hổ làm biểu tượng cho quyền uy. Ngũ hổ là chủ thể quyền uy 5 phương, có một sức mạnh lớn và nhờ sức mạnh có tính chi phối đó, vạn vật có trật tự. Về mặt quan hệ xã hội, 5 phương chính là cộng đồng và đây chính là điểm đưa hổ lên tầm của sự đại đồng và bảo hộ (ví dụ như ở Hàn Quốc, hổ đóng vai trò là Thần bảo hộ). Ở Việt Nam, sau khi triết học Trung Hoa thâm nhập vào Việt Nam, tinh thần của loại triết thuyết này với ngũ sắc đã kết hợp với đạo Mẫu thuần Việt tạo nên ngũ hổ với 5 màu sắc. Biểu tượng này của tôn giáo lan sang nghệ thuật dân gian, tạo nên bức tranh 5 ông hổ quay quần quanh một điện thờ hương khói vấn vít, chầu vào trung ương để che chở bảo hộ. Trong phong thủy, hổ là con vật tượng trưng cho sự quyền uy, mạnh mẽ, nhanh nhẹn và bản lĩnh.

Cũng trong văn hóa, đặc biệt là văn hóa Trung Hoa, hổ là động vật có thật và gần như là duy nhất được người ta sánh đôi với rồng – một loài vật hư cấu tượng trưng cho quyền năng của tự nhiên. Nhiều bức hội họa, thư pháp, tranh thủy mặc ở Trung Quốc, Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản… có vẻ cảnh hổ và rồng đang ở tư thế gầm ghè chuẩn bị giao chiến và điều này cũng thể hiện trên những bức tượng, phù điêu khác. Người Hàn Quốc quan niệm rằng khi trời mưa to là lúc rồng và hổ đang giao chiến kịch liệt. Nhiều câu thành ngữ, vần vè cũng có sự sánh đôi giữa rồng và hổ Có thể kể đến như:

  • (tiếng Hán: 龙争虎斗) hoặc hay dùng để chỉ về một trận đấu ác liệt ngang sức ngang tài giữa hai kỳ phùng địch thủ vì cuộc đối đầu giữa rồng và hổ luôn chỉ đến những cuộc tranh đấu giữa các thế lực mạnh hoặc những trận đấu có tính chất quyết liệt. Đây cũng là tựa đề của một bộ phim võ thuật của điện ảnh Hồng Kông có tên: Long tranh, hổ đấu (tựa tiếng Anh: Enter The Dragon) với sự tham gia của diễn viên Lý Tiểu Long.
  • (Hán Việt: , chữ Hán: 藏龙卧虎) hay có nghĩa là chỗ đất hiểm yếu hay một địa điểm chiến lược. Thành ngữ này được nhắc đến trong Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ khi đề cập đến địa thế của Đại La và chọn đây là kinh đô của nước Việt. Câu nói này cũng là cảm hứng cho tựa đề của bộ phim của Đài Loan của đạo diễn Lý An có tựa đề (tựa tiếng Anh: ) có nghĩa là một nơi có vẻ vô hại nhưng lại có những lực lượng rất mạnh ẩn nấp.
  • : Rồng xanh bên trái, hổ trắng bên phải
  • (chữ Hán: 龙塘虎穴) hay : Chỉ về một nơi nguy hiểm.
  • (chữ Hán: 龙腾虎跃) nghĩa tiếng Việt là:
  • tức
  • tức Rồng sinh ra mây, hổ sinh ra gió
  • : Câu thành ngữ chỉ về sự thất thế
  • , hay câu khẩu quyết trong võ học: ngoài ra còn có: , một điệu múa trong cung đình Huế hay : Một cánh cửa khó khắc hình con rồng và con hổ và cũng là tựa của một bộ phim võ thuật-xã hội đen của Hồng Kong (Dragon Tiger Gate) với sự tham gia của các diễn viên: Chung Tử Đơn, Lâm Phong…
  • : Câu ngạn ngữ ở Việt Nam
  • , dịch nghĩa: lời tựa trong bài Hùng kê quyền

Một bức tranh của Nhật Bản vẽ về cảnh rồng và hổ

Bài chi tiết: Hổ đấu với sư tử

Ngoài việc so sánh với loài rồng, với bản năng chiến đấu hung dữ của mình, hổ cùng là loài động vật được người ta chọn làm một bên trong các cuộc giao chiến giữa các loài muông thú mà điển hình là cặp đấu hổ với sư tử luôn là đề tài được quan tâm của nhiều người trong suốt lịch sử. Bên cạnh đó, một cặp đấu đáng chú ý khác là cuộc chiến giữa hổ và voi, đặc biệt ở Việt Nam người ta trong lịch sử người ta thường tổ chức những cuộc quyết đấu giữa các con voi chiến và các con hổ ở đấu trường với một cuộc chiến khá bất công dành cho hổ, ngoài ra hổ còn là đối thủ của nhiều động vật khác chẳng hạn như sói lửa (hồ), gấu, cá sấu, đại bàng hoặc những trận chiến với trâu nhà thông qua những câu chuyện kể lại của những người dân. Bên cạnh đó còn có những câu chuyện về những cuộc chiến đấu giữa hổ và người, những người có sức khỏe phi thường, tay không đánh hổ như Võ Tòng trong Thủy Hử, Phùng Hưng, Nguyễn Huệ, Lê Văn Khôi, Võ sư Nhật Bản Gogen Yamaguchi,…

Bài chi tiết: Cao hổ cốt và Pín hổ

Sự khôn khéo của con người trong cách đối xử với hổ còn mang lại lợi ích về mặt sức khỏe theo quan niệm của Đông y, đó là một trong những lý do quan trọng khiến cư dân Nam Á trân trọng hổ. Đặc biệt là trong quan niệm đời sống, người ta đánh giá rất cao công dụng của xương hổ và loại thuốc trứ danh Cao hổ cốt, theo đó Cao hổ cốt có thể làm thay đổi chất lượng sức khỏe con người, cứu bệnh hiểm nghèo, giúp bệnh ung thư, cứu người hậu sản… Bên cạnh đó, theo quan niệm của nhiều người thì hổ. loài vật đã đi vào huyền thoại về sức mạnh tình dục với biểu tượng là chiếc pín hổ (tức dương vật của con hổ) mặc dù trên thực thế khả năng sinh dục của hổ cũng chỉ ở mức bình thường. Nhiều người Việt Nam hay người Trung Quốc vẫn rất tin vào công dụng của những sản phẩm làm từ động vật hoang dã, ăn gì bổ nấy, con gì càng khỏe, càng quý hiếm thì càng tốt và do hổ là con vật khỏe hàng đầu nên cao hổ, móng hổ, da hổ, nanh hổ và cả pín hổ vẫn được săn lùng ráo riết. Tuy nhiên việc cho phép đem chúa sơn lâm linh thiêng ra giết mổ như… bò, lợn, gà vịt thì rất chi là phản tâm linh, sản phẩm của hổ như da làm thảm, răng và vuốt để làm trang sức, các trang trại nuôi hổ ở Trung Quốc rất lớn, với hàng ngàn con hổ bị nhốt, nuôi lấy giống và giết thịt giống như nuôi gà.

Quan niệm Phương Tây

Theo cách nhìn phương Tây thì trong văn hóa châu Á, hổ chỉ đóng vai trò thay thế sư tử để trở thành (King of the Beasts) khi sư tử luôn là biểu tượng của hoàng gia, biểu tượng của sức mạnh Trong đời sống và văn hóa phương Tây có mô tả về hình ảnh của hổ nhưng đặt trong sự so sánh và một cuộc chiến với sư tử, điều này được tái hiện trong tranh vẽ của Eugène Delacroix, George Stubbs, và James Ward vào thế kỷ thứ XVIII và XIX, cũng trong Văn học Anh đã so sánh sức mạnh chiến đấu của hổ và sư tử, và các nhà thơ Edmund Spenser, Allan Ramsey, và Robert Southey hay mô tả chiến thắng của sư tử. Oliver Goldsmith cho rằng hổ là hiện thân như một kẻ hay gây hấn, hung dữ và tính tình tàn bạo không cần thiết. Charles Knight cũng khẳng định sự tàn khốc vô cớ, sự tàn ác không cần thiết, và sự hèn nhát của hổ trong sự tương quán với lòng quảng đại và sự oai vệ của sư tử.

Trên những huy hiệu của các quốc gia phương Tây, hổ được khắc họa là một con quái vật huyền ảo với một cơ thể thon gọn của một con con chó sói, có bờm, râu và chỏm lông ở đuôi giống sư tử cùng một cái mõm nhọn điều này phản ánh việc nhiều nghệ sĩ châu Âu thời Trung cổ chưa từng bao giờ nhìn thấy một con hổ thực sự, cộng với một truyền thuyết về một con hổ mẹ dữ dằn, sẵn sàng quyết liệt bảo vệ con cái của họ trước những thế lực muốn bắt con của nó và nếu nó đứng trước một tấm gương thì con hổ cái sẽ bị thôi miên bởi chính hình ảnh của mình do đó một số huy hiệu có mô tả cảnh hổ nhìn chằm chằm vào gương. Cũng theo cách nhìn của phương Tây thì trong văn hóa dân gian châu Á thì hổ cũng là con vật thay thế chó sói để hóa thành thành những loài yêu quái hay yêu tinh chuyên biến hóa, hại người, hổ với hình dạng là những con mèo ma, yêu quái mèo (werecat) thay thế cho ma sói hay người sói.

Trong tín ngưỡng

Hình tượng con hổ trong văn hóa
Hổ là con vật được nhắc đến rất nhiều trong tín ngưỡng dân gian

Trong tín ngưỡng dân gian của nhiều dân tộc, vùng miền hổ là loài vật được tôn thờ và sùng bái thông qua tập tục thờ hổ, hổ còn đóng vai trò là thần giám hộ của quốc gia, sự ngưỡng mộ loài hổ còn thể hiện thông qua danh xưng, đặt tên, làm linh vật, biểu tượng. Trong tiềm thức dân gian Việt Nam, hổ hay ông ba mươi là tên gọi đầy uy linh, quyền kính trong những gian thờ, đình, chùa, miếu mạo. Tục thờ hổ bắt nguồn từ cuộc sống nguyên thủy, khi con người còn sống trong điều kiện săn bắt, hái lượm hoặc giai đoạn đầu của cuộc sống nông nghiệp thì lúc này hổ chính là sức mạnh thiên nhiên vừa gần gũi và là tai họa đối với con người, chính vì vậy mà con người thờ hổ.

Tên gọi

Trong số các tên gọi tên được dùng phổ biến và tồn tại trên văn bản, các vùng nhiều nhất là . Người phương Đông gọi Hổ bằng nhiều tên hơn người Phương Tây. Trong hệ ngôn ngữ châu Âu, từ hổ bắt nguồn bằng từ vốn được vay mượn từ tiếng Hy Lạp , bản thân từ này lại vay mượn từ tiếng Ba Tư trong từ Anh-Mỹ thì () lần đầu tiên được ghi lại năm 1611 và thuật ngữ (yellowish-brown quartz) được ghi lại năm 1891. Thuật ngữ tiếng Anh thông dụng chỉ về hổ là và chỉ về hổ cái là , trong tiếng Pháp thì hổ còn gọi là , tiếng Tây Ban Nha thì hổ được gọi là .

Ở châu Á, người Tungus một dân tộc ở vùng Tây Bá Lợi Á gọi giống hổ Mãn Châu bằng tên gọi với ý nghĩa tôn xưng là hay , còn người Udege và người Nanai ở vùng Viễn Đông Nga gọi hổ Mãn Châu bằng tên gọi với ý nghĩa sùng kính cùng với gấu (Doonta), người Mãn Châu gọi tên hổ với ý nghĩa là () Người Mông Cổ gọi hổ là (Бар) đây là từ gốc của danh hiệu Ba Đồ (Баатар) và Ba Đồ Lỗ (Baturu) của người Mãn Châu. Ở Trung Quốc, người Trung Quốc hay gọi hổ là . Ở Mã Lai, hổ Mã Lai cũng được người Mã Lai đặt cho nhiều loại tên hiệu, đáng chú ý có có nghĩa là hay Ở Indonesia, người ta gọi hổ là , người Thái Lan gọi hổ là . Người Thái ở Việt Nam gọi hổ là , , , người Mường thì gọi là , người M’Nông gọi hổ là , người Êđê gọi là , người Hà Nhì ở Lai Châu gọi hổ là , người Khơ Mú gọi hổ là , người La Hủ gọi hổ là và tên của dân tộc này được đặt theo tên của con hổ, người Tà Ôi gọi hổ là .

Hổ có rất nhiều tên gọi đặc biệt là trong tiếng Việt

Trong chữ Hán, chữ hổ (唬) nghĩa là dọa nạt, có bộ khẩu đứng trước chữ hổ để tượng hình cho việc nghe tiếng hổ gầm, tạo ra sự khủng khiếp và trong tiếng Việt từ hùng hổ hay hùng hùng hổ hổ cũng có thể xuất phát từ ý nghĩa này. Trong dân gian Việt Nam, với những đẳng cấp và những giai cấp khác nhau, người ta còn gọi hổ là: , , hoặc những danh xưng mang tên như , , , , , , , … trong đó người ta thường gọi con hổ với cách gọi rất trân trọng là ông Hổ, ông Ba Mươi Trong các loài thú dữ, chưa có loại thú nào được con người sợ hãi, thờ cúng, kỵ húy nhiều bằng con cọp, quan điểm nhiều người không dám gọi thẳng tên, một số người già không dám kêu đích danh con hổ mà chỉ dám gọi chệch đi ông kễnh, ông ba mươi hay ông hùm vì sợ .

Cái nhìn dân gian Việt về con cọp thể hiện trong cách gọi tên, thể hiện qua những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ, những câu chuyện cổ tích, ngụ ngôn. Ngoài tên Cọp, là Hổ, tiếng Hán Việt là , hổ còn có tên là , là , (cọp ba chân), (cọp ba móng), hay , , (cọp thành tinh), . Dựa vào tiếng gầm của, hổ còn có tên gọi là , là , dựa vào sắc màu của da còn gọi là , là . Ở Nam Bộ cò gọi cọp là vì sợ cọp quấy phá, lập miếu thờ, tôn cọp lên hàng là chức cao nhất trong Ban Hội Tề của làng xã Nam Bộ trước đó, người dân ở một số vùng thuộc Quảng Trị (như làng Thủy Ba) còn gọi hổ bằng tiếng địa phương là có nghĩa là cọp. Như vậy, người Việt gọi là , , , , (miền Trung), , , (miền Nam) và các tên ẩn dụ như , , , , , …

Ở Miền Đông Nam Bộ, những danh xưng cao nhất được dành cho hổ như , , , , , , , , , , , , , , , . Ở các làng quê Nam Bộ, thường có tập tục cử cọp giữ chức của làng, Có nơi như Bến Tre, dân làng gọi hổ với chức . Nguyên nhân do tương quan lực lượng giữa con người và tự nhiên vào buổi đầu, nên dù có diệt cọp nhưng những người dân đi khai phá vẫn phải tôn thờ nó vì hổ tượng trưng cho sức mạnh của tự nhiên mà cư dân buổi đầu phải đối đầu, điều đó giải thích một tập tục thờ hổ phổ biến trong buổi đầu đi khai phá khi con người phải thừa nhận những sức mạnh của tự nhiên, mà cọp là một đại diện tiêu biểu.

Sở dĩ hổ thường gọi nhiều tên như thế vì con người rất sợ loài thú hung dữ này khi họ phải lên rừng núi để khai thác gỗ, đốn củi, đốt than, khai thác trầm kỳ, mây, tre, cây thuốc, lấy mật ong… hay nhà ở gần núi, nên thời xưa, không những con người lập miếu thờ cọp, gọi cọp là , mà còn kỵ húy, kiêng kỵ tên chính thức nên gọi tránh đi và bao giờ cũng có chữ , chữ đứng trước để tỏ ý tôn trọng hay thành kính. Hoặc là hổ nhiều khi vồ cả người cho nên người dân xưa, đặc biệt là dân vùng sơn cước thường sợ, tôn sùng hổ, khi đi rừng không dám nhắc đến hổ, hoặc nói trại tên đi. Ở vùng Sơn La, đồng bào dân tộc ở đây họ rất sợ hổ và họ gọi là ông hổ, chứ không dám gọi là con hổ.

Trong tiếng Việt, tuy có nhiều tên gọi nhưng tập trung vào một số tên gọi chính với cách dùng trong những trường hợp cụ thể là

  • Hổ: Liên tưởng đến sự hùng hổ, mạnh mẽ, hung ác, quyết thắng. Người ta cũng thường dùng từ để mô tả về những con hổ chỉ về sự hung tợn, dữ dằn hoặc tấn công làm hại người.
  • Cọp: Liên tưởng đến động tác ngoạm, cắp rất dữ dội, tham lam, ăn tươi, nuốt sống.
  • Hùm: Liên tưởng đến tiếng gầm dữ dội, nhằm đe dọa đối phương.
  • Ông Ba mươi: chỉ thọ 30 tuổi và hay rình dò kiếm ăn vào đêm 30 Tết và kêu lên với sự tôn trọng, hay Cọp đi ba mươi bước là quên hết mọi thù oán hoặc Đêm ba mươicuối tháng âm lịch, trời tối đen như mực, là thời gian thích hợp cho cọp dễ lộng hành, tìm mồi. Truyền thuyết kể rằng, vua Gia Long trong những ngày sống trong rừng, hết cả lương thực may mắn có thịt thú rừng do hổ tiếp tế. Biết ơn hổ, vua cho lập miếu thờ và ra lệnh ai lỡ tay giết hổ bị phạt 30 trượng hoặc bắt sống thì thưởng 30 quan tiền. Vì vậy mà con hổ còn được gọi là ông ba mươi.
  • Kễnh: Liên tưởng đến việc con cọp có thể chỉ cần chạy bằng ba chân, khi một chân bị thọt, hoặc vướng vì tha con mồi to hơn mình.
  • Quan lớn tuần dinh, hoặc Quan 5 dinh: được thờ cúng trong các đền, coi là bộ hạ của Thần, Thánh, Mẫu…
  • Ông Mãnh: Mạnh mẽ, tàn bạo, thù dai.
  • Hạm: Trong miền Nam cũng có nghĩa là cọp nhưng là những con cọp ác, hung dữ ăn thịt người quấy phá cuộc sống của người dân, đối lập với cọp bạch, tức là cọp tu, cọp hiền
  • Hàm: cũng như Hùm, từ tượng thanh dùng làm danh từ dựa vào tiếng gầm của hổ.
  • Gấm, Mun: Tên gọi dựa vào màu sắc của hổ.

Về vị trí của hổ trong rừng, người ta còn gọi hổ bằng , sau đó được nhấn mạnh thêm là hoặc hay , , , , , , …, có thể nói, trong họ hàng nhà mèo thì có lẽ hổ là con thú được nhắc đến nhiều nhất với danh hiệu Chúa sơn lâm. Ở Ấn Độ và người Phương Tây hay dùng thuật ngữ hay Chúa sơn lâm (/) để chỉ về hổ Bengal. Hổ Mãn Châu còn được mệnh danh là . Người ta cũng dùng những thuật ngữ gọi về hổ như , nhưng đây chỉ là những từ ngữ mang tính mô tả chứ không có ý miệt thị như những thuật ngữ kiểu như , , , , …. Và cũng chính sự dữ tợn nguy hiểm của hổ mà nhiều người gọi hổ bằng danh xưng Ông

Sùng kính và tôn thờ

Bài chi tiết: Tục thờ Hổ

Hình tượng con hổ trong văn hóa
Người Trung Hoa cho rằng những vệt vằn trên trán hổ có hình chữ Vương (王), có nghĩa khi sinh ra hổ là vua của muôn thú

Người Trung Hoa quan niệm rằng những vết sọc trên trán của hổ liên tưởng đến chữ (), theo tiếng Trung Quốc có nghĩa là vua do đó người dân nước này tin rằng con hổ sinh ra vốn dĩ đã là vua, chữ vương trên trán hổ được hội họa Trung Hoa cũng như Hàn Quốc khai thác rất nhiều. Bên cạnh đó, trong văn hóa Trung Hoa, hổ là loài vật có thực được tôn lên ngang hàng với rồng (long) một con vật trong tưởng tượng biểu tượng cho sức mạnh của trời đất, người Trung Hoa có câu mô tả sự sóng đôi giữa hai loài này. Ở Trung Quốc rồng là biểu tượng cho vua chúa, vương quyền, phượng hoàng biểu tượng cho hoàng hậu thì hổ biểu tượng cho các vị tướng và đại diện cho quân đội Người Trung Quốc coi hổ là biểu tượng của sự can đảm, người Trung Quốc cổ xưa tôn sùng đấu sĩ dữ tợn, không biết sợ hãi này và coi đây là biểu tượng chống lại ba đại họa của một gia đình như hỏa hoạn, trộm cắp và ma tà. Người Trung Hoa cũng suy tôn con vật linh Hổ gọi là: cứu nhân độ thế: , vật linh Hổ từ đó được lan truyền vào các ngôi đình, đền, chùa, miếu, thể hiện thế lực, sức mạnh, áp đảo.

Hổ thường dùng để chỉ những nhân vật xuất chúng, những người mạnh mẽ, còn trẻ tuổi thường được gọi là (hổ nhi) để thể hiện sự kỳ vọng của mọi người. Hổ là một mãnh thú dữ tợn và thường được coi là nguy hiểm với con người, tuy nhiên, theo văn hóa truyền thống Trung Quốc, hổ cũng là biểu tượng của sự may mắn. Hổ, cùng với những con vật mang lại may mắn khác như Long (rồng) và Kỳ Lân có yếu tố bảo vệ cho người Trung Quốc. Trong khi hầu hết những con vật may mắn trong văn hóa Trung Quốc đều là giả tưởng thì con hổ là con vật có thật trong cuộc sống. Theo truyền thống, người ta tin rằng trẻ em đội mũ, đi giày có hình đầu hổ vào năm mới sẽ được bảo vệ khỏi ma tà. Long Hổ Tông ở Trung Quốc là một đạo giáo lấy hổ cùng với rồng làm biểu tượng. Trong tiếng Trung Hoa, chỉ có chuột và hổ mới được gọi tên một cách kính cẩn bằng cách gắn thêm từ “lão” phía trước: lão thử (cụ chuột) và lão hổ.

Trong lịch sử và văn hóa Hàn Quốc, hổ vừa được dân gian xứ Hàn tôn làm thần giám hộ, hổ vừa là biểu tượng của uy dũng và quyền lực, giúp con người tránh được vận hạn và đem đến cho họ nhiều phúc lộc, dân tộc Hàn Quốc đã có lịch sử lâu dài gắn bó với hình ảnh con hổ tại đây con hổ là giống vật thiêng biểu tượng cho điềm lành và là loài vật gần gũi theo như câu ngạn ngữ . Theo quan niệm dân gian Hàn Quốc thì khi trời mua to đó chính là lúc hổ đang đánh nhau quyết liệt với rồng Hình hổ còn được in lên bùa. Tấm bùa thường mang hình hổ vì đây là con vật biểu trưng của tinh thần dũng mãnh tạo cho người ta niềm tin tâm linh về sự an lành, được bảo vệ khỏi mọi điềm gở trong đời sống. Người Hàn Quốc xưa quan niệm rằng trong ngày vui hôn lễ, để tránh cho cô dâu khỏi gặp họa vì lòng người đố kỵ khó lường, nên phủ lên kiệu hoa một tấm da hổ hay tấm chăn có họa tiết hình hổ. Nếu cô dâu ngồi kiệu phủ trướng da hổ thì chú rể luôn phải giữ móng hổ bên mình. Ngày xưa, người ta thường treo chuỗi xương hổ trước cửa hay cổng nhà để xua đuổi khí xấu.

Cũng ở Hàn Quốc, Khu lăng mộ của vua cũng là nơi người ta nhận ra sự hiện hữu của hổ, linh vật hộ vệ, che chở cho con người khỏi mọi tai ương. Tượng hổ tạc bằng đá Nằm ngay phía trước mộ xuất phát từ quan niệm xưa cho rằng hổ có thể bảo vệ lăng mộ, chốn yên nghỉ cho linh hồn vua chúa, điều này cũng có nét tương đồng với văn hóa Việt Nam. Tính chất linh thiêng của hổ còn được thể hiện trong lễ cầu mưa. Sử liệu thời Joseon ghi lại rằng vào thời Taejong (Triều Tiên Thái Tông), Sejong (Triều Tiên Thế Tông), Munjong (Triều Tiên Văn Tông) và Danjong (Triều Tiên Đoan Tông), đầu hổ đã được dùng để cúng thần khi hành lễ cầu mưa Seokcheokgiuje () Hoạt động khởi sự việc nhúng đầu hổ xuống nước, nơi rồng náu ẩn trước bến cây liễu, cây phác. Trong nghi lễ cầu mưa của hoàng gia, đầu hổ được ném xuống sông, nơi được coi là chốn ngự trị của rồng bởi quan niệm chỉ có hổ mới trị được Long thần, kẻ cai quản nguồn nước.

Ở Việt Nam, theo quan niệm thông tục, người ta cho rằng, hổ là chúa tể của muôn loài muông thú, thậm chí uy lực của hổ còn trấn ngự được cả những linh hồn người đã chết do nó ăn thịt. Trong văn hóa, hổ xếp hàng thứ ba trong mười hai chi, năm Dần mang cầm tinh cọp, là một hình tượng đa nghĩa vừa phức tạp trong tâm linh người Việt, vừa là ác thú, vừa là thần hộ mệnh. Có hình hổ trấn giữ ở ngưỡng cửa là tà ma không dám xâm nhập. Hổ là ác thú được người kinh sợ đến độ lập đền thờ, hy sinh nhân mạng để tế lễ mỗi cuối năm, như tục thờ Thần Hổ, làng Ngọc Cục, huyện Đường An, tỉnh Hải Dương mà Phạm đình Hổ (1768-1839) đã kể lại kỹ càng trong Vũ Trung tùy bút, đến năm 1800, tục mới chấm dứt. Mặt khác, hổ lại là phúc thần được vẽ tranh thờ để trừ tà yểm quái. Tranh Hổ còn được bày nơi nhiều đền chùa, nhất là các đền thờ Thánh Mẫu, như tranh Bạch Hổ Thần tượng đặt ở đền Quan Thánh, Hà Nội. Ngày nay, tại miền Bắc Việt Nam, từ đồng bằng lên Mạn Ngược, nhiều nhà còn sùng tín vào Tranh Hổ.

Hình tượng con hổ trong văn hóa
Hổ là con vật linh thiêng và là kẻ gác đền trong những khu rừng già ở Ấn Độ

Việc tồn tại dai dẳng tục thờ thần Bạch Hổ trong người Việt cũng như nhiều dân tộc sống ở miền núi phía Bắc Việt Nam một mặt phản ánh tín ngưỡng nguyên thủy từ rất xa xưa, đồng thời phản ánh tàn dư tôn sùng loài vật này gắn với sự phát triển của Đạo Giáo vốn xuất hiện ở Việt Nam chậm nhất là vào khoảng đầu công nguyên. Từ rất lâu trong tín ngưỡng dân gian Việt, hổ được coi là con vật linh thiêng, bởi thế mà danh xưng của nó cũng được thần thánh hóa bằng những cái tên như , … Rất nhiều gia đình có tục thờ như một cách để cầu công danh, mang lại sự may mắn. Tranh Ngũ hổ của dòng tranh dân gian Hàng Trống đất Thăng Long trở thành dòng tranh thờ nổi tiếng. Theo Phạm Đình Hổ thì qua tục giết người tế Thần Hổ nhắc đến thần Xương Cuồng có ghi vào sử sách như Mộc Tinh trong Lĩnh Nam Chích Quái. Tục tế Thần Hổ này có từ xa xưa trước Tây Lịch, khi quân nhà Tần của Nhâm Ngao và Triệu Đà mới lấn chiếm và đô hộ đất Văn Lang.

Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam con Hổ được gắn với tục thờ Mẫu. Dù ở miền Bắc, miền Trung hay miền Nam đều có tục lệ thờ Thần Hổ như một biểu tượng của con vật dũng mãnh, uy linh tượng trưng cho sức mạnh có khả năng trấn giữ cửa ải ngũ phương. Trên phương diện này hổ đã hoá thành vật linh thiêng với những cái tên trong huyền thoại dân gian thường gọi: , , , , , trong khi đó ở miền Nam Việt Nam còn có tên ông , … Bùa ông Hổ còn được dán và ếm ngay trước cửa cái ra vào nhà để trừ tà. Xuất phát từ tục thờ hổ, thần thánh hóa loài vật này, các nghệ nhân dân gian cũng xây dựng biểu tượng hổ qua nhiều chất liệu như: gỗ, đá, vôi giấy, đất nung, tranh vẽ, tranh cắt giấy… Nhưng mẫu tranh được biết đến nhiều nhất là tranh Ngũ hổ của phố Hàng Trống (Hà Nội) xưa.

Thần Hổ vừa là huyền thoại vừa là hiện thân của vẻ đẹp dũng mãnh, hiểm ác vì thế hổ linh được chạm trổ trên các lăng mộ, nhang án, nó được in trên hoa văn gạch ở các móng chùa, đền, miếu cổ xưa với một mô típ đẹp uyển chuyển, nhẹ nhàng và có tính thiêng liêng. Hổ đã hoá thân thành vật linh như: tượng trưng cho sự quần tụ của giới trí thức nho học (Bảng rồng: Tiến sĩ, bảng hổ: Cử nhân). Trong tín ngưỡng dân gian tục thờ Mẫu người ta thường vẽ tranh ngũ hổ để tượng trưng cho ngũ phương. Ngoài việc mô tả chạm trổ đá, gỗ và in hoa văn Thần Hổ trên gạch, không ít ở các cổng đền, miếu, bệ thờ, án gian trong gia đình đều chạm khắc, hoặc đắp Hổ phù nhô ra, miệng há to dữ tợn xung quanh răng nanh đâm ra như một cái hang. Trong một số hoàn cảnh đặc biệt Thần Hổ trắng còn là biểu tượng của thần chữa bệnh và thần tài của một số gia đình hiện nay đang buôn bán phát lộc, thường tôn thờ ông Hổ. Hàng ngày đèn nhang, lễ vật bằng trứng sống đều đặn, coi đó như linh vật trong tâm thức, tín ngưỡng dân gian. Việc thờ Thần Hổ gắn với việc thờ Mẫu trong dân gian là một lệ tục tín ngưỡng văn hoá tâm linh đã trải qua nhiều mốc thời gian cho đến ngày nay vẫn đang tồn tại bóng dáng ở những ban thờ Mẫu, ở chùa, đền và miếu. ở những nơi này, Ngôi đền nào cũng có đắp tượng hổ ở cửa vào, coi như Thần tướng gác đền và thần tướng này cũng được khách đi lễ thắp hương, khấn vái, chẳng hạn như người dân lập miếu thờ hổ ở vùng Mỹ Phước, Long Xuyên, An Giang, Việt Nam.

Vào những ngày rằm, mùng một hoặc lễ chạp, ngoài hương hoa, những người lớn tuổi còn cúng một miếng thịt heo sống trên bàn thờ ông hổ. Trong tục thờ, có gia đình thờ tranh ngũ hổ, có gia đình chỉ thờ một ông. Những người thờ phụng ông hổ đều tin rằng có một sức mạnh siêu nhiên phù hộ cho gia trạch bình an, loại trừ tai nạn. Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian cho rằng: tục thờ này bắt nguồn từ một cuộc sống nguyên thủy, khi con người còn sống trong điều kiện săn bắt, hái lượm hoặc giai đoạn đầu của cuộc sống nông nghiệp, thì hổ chính là sức mạnh thiên nhiên gần gũi và là tai họa đối với con người, do đó phải thờ hổ. đặc biệt là do khiếp sợ oai linh thần hổ, người dân miền sơn cước luôn thờ cúng chúa sơn lâm. Một ví dụ cụ thể là người dân Tiên Cảnh có phong tục cúng thần rừng, vị thần họ tin rằng nắm giữ bổn mạng của cả vùng đất này, đại diện cho thần rừng, không phải loài nào khác mà chính là hổ dữ – vị chúa sơn lâm đầy quyền uy, do nỗi sợ hãi đã khiến người dân Tiên Cảnh tôn sùng loài ác thú này như thần thánh. hay người dân Mường Mõ bao đời nay thờ hổ, tôn kính hổ như thần linh, ở đây núi cao vực sâu thêm huyền bí vì những truyền kỳ về hổ.

Con hổ luôn đe doạ đến đời sống con người nên một số địa phương đã có tục thờ thần hổ. Tục này xuất xứ từ làng Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Đến thế kỷ XVI, XVII, khi lưu dân đến khai phá đất Nam Bộ, một vùng hoang dã mà có thời , thì việc thờ hổ được xem như một nhu cầu thiết thực đối với đời sống tâm linh, nên thời bấy giờ ở Nam Bộ có rất nhiều miếu thờ hổ. Có nơi thì đúc thành tượng hổ uy nghi, có nơi thì thờ tranh ngũ hổ, quanh năm khói hương nghi ngút. Đối với người miền Tây thì những câu chuyện về hùm beo, rắn khổng lồ vẫn luôn là đề tài hấp dẫn, loài cọp dữ, loài vật hấp dẫn chỉ đứng sau rắn hổ mây khổng lồ trong những câu chuyện đường rừng, nhằm khắc họa lại một phần cuộc sống sông nước miền Tây thời xưa. Ở vùng sông nước miền Tây, lại có đình, đền, miếu thờ hay và thay vì thờ thần thánh, người ta lại khói hương nghi ngút, khấn vái thành kính loài vật được cho là thú dữ, sợ hãi và tôn kính cọp, nên người dân lập đình, miếu thờ cọp hằng năm làm heo cống nạp, cầu được bình an, không bị loài hổ trả thù, một số dòng họ còn đổi cả họ vì kinh sợ hổ bắt người để trả thù mà lập miếu thờ phụng cầu an. Người miền Tây còn quan niệm rằng rừng thiêng nước độc luôn có chủ nhân của rừng núi và hổ là Chúa sơn lâm, thợ săn nên tránh nó nếu không cần thiết.

Không chỉ người Việt, một số đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng có tục thờ hổ, trong đó có người Khơ mú sống ở khu vực Tây Bắc và miền tây Nghệ An. Một tập quán ăn sâu vào tình cảm và tiềm thức của người Khơ Mú thuộc họ Rvai (hổ), đó là nghi lễ cúng ma nhà (Hrôigang). Vào dịp Tết Nguyên đán, người Khơ mú thuộc họ hổ đã diễn lại các động tác của hổ, vật tổ của dòng họ với ý thức tự nhắc nhở và giáo dục những người trong cộng đồng rằng mình là người họ hổ và có nguồn gốc từ hổ. Với quan niệm hổ là tổ tiên của mình, người Khơ mú thuộc họ Rvai kiêng không động tay vào hổ, không săn bắt, giết, ăn thịt hổ. Trong các hội hè, các nghi lễ người hóa trang giống như hổ. Khi gặp hổ chết, người Khơ mú thuộc họ Rvai phải khóc than thật sự như tổ tiên của mình qua đời. Người ta tin rằng khi chết đi, họ sẽ hóa thành kiếp hổ. Khi còn sống, người ta kiêng đắp chăn sặc sỡ như lông hổ, khi chết, người ta đắp cho chiếc chăn khác màu lông hổ và đặt chiếc chăn giống màu lông hổ bên cạnh người chết để hồn được siêu thoát và trở về với hổ, có nghĩa là về với tổ tiên. Với người Thái, khi được nghe tiếng hổ gầm vang trên đồi cao là niềm hân hoan, sảng khoái nhất của bản mường.

Người Tà Ôi cũng có tục thờ Thần hổ (Giàng avó). Trong hệ thống thú rừng của người Tà Ôi, con hổ được coi là con vật có sức mạnh nhất. Hổ được người Tà Ôi coi như vị thần bảo hộ cho làng, việc bắt được hổ theo quan niệm của người Tà Ôi được ví như món quà tặng của thần rừng. Việc thờ đầu hổ xuất phát từ niềm tin rằng hổ sẽ báo mộng cho người ta biết làng sắp gặp chuyện chiến tranh, mất mùa, có dịch bệnh. Các điềm báo xấu đó thông qua giấc mộng đến với người trong làng. Hàng năm người ta vẫn đến tiến hành thăm nhà mồ có đầu hổ. Trong các thôn của xã Nhâm chỉ có làng Nhâm I còn có tục thờ thần hổ, làng Ka Linh, Tà Kêu trước đây ở Lào cũng có tục này. Hàng năm khi người Tà Ôi tiến hành tổ chức ăn năm mới, hay cúng khánh thành nhà rông, thần hổ đều được chia phần, khi tuốt lúa mới phải thổi cơm dành phần cho thần hổ ăn.

Người dân địa phương ở Trà Bồng cũng có lập am thờ con hổ, họ thờ hay còn gọi là , Bạch Hổ sơn quân là tùy tướng thân cận nhất của Thiên Y A Na, tương truyền khi có giặc đánh tới, hổ cùng nữ chúa xung trận, tùy tướng Bạch Hổ sơn quân xuất hiện đến kết liễu rồi mang đầu giặc treo ở một cây đa trong vùng. Khi hết giặc, Bạch Hổ sơn quân vào núi đi tu. Nhớ ơn Bạch Hổ sơn quân, người dân ở Trà Bồng còn lập miếu thờ riêng. Người ta cho biết, vào dịp lễ cúng Thiên Y A Na, cứ đến khoảng 2 đến 3 giờ sáng, cũng là lúc Bạch Hổ sơn quân xuất hiện, có niềm tin hoang đường rằng cứ mỗi lần khấn xin hiện hình là đêm đó Bạch Hổ sẽ xuất hiện. Những ai muốn Bạch Hổ sơn quân hiện hình thì rải cát ở căn nhà phía sau điện thờ. Sáng hôm sau, vào căn nhà này sẽ thấy dấu chân Bạch Hổ to lớn hiện lên theo hướng đi vào đại điện thờ.

Con hổ còn là con vật tổ của những dân tộc khác nhau, Hổ là con vật tổ theo tín ngưỡng Bái vật tổ (Tôtem) của dân tộc miền tây Trung Quốc thời xa xưa, vùng đất Sở Hùng, Xuyên, Điền ở Vân Nam Trung Quốc từ xưa đã thịnh hành tín ngưỡng Tôtem thờ vật tổ là con hổ, là nơi tập trung tín ngưỡng thờ hổ của Trung Quốc. Dân tộc ở những vùng này phần lớn là hậu duệ của người Nhung Địch cổ (người Phương cổ) như: Di tộc, Bạch tộc, Thổ gia tộc, Na-xi tộc, La Hủ tộc, Li-su tộc, hiện họ vẫn còn giữ lại tín ngưỡng và tập tục thờ hổ. Vào thời hoang sơ cổ, người Phương cổ thờ hổ ở vùng Thanh Hải, Cam Túc, Thiểm Tây sống bằng chăn nuôi du mục khi vào đến Trung Nguyên, bộ tộc hổ của vùng Hoa Bắc đã chung sống với các bộ tộc thờ rồng. Hổ nguyên là tín ngưỡng của dân tộc miền tây, theo từng bước chân di cư, hòa hợp dân tộc, dần dần lan truyền đến phương đông. Lộ Sử – Quốc danh kỷ có ghi chép: Vào thời Thương Chu, Hổ tộc là một tộc lớn, họ phân bố ở khắp vùng Giang Hoài, Hồ Nam, Tứ Xuyên. Nước Hổ Phương lúc đó là nước Từ phương, nay là vùng giao hội giữa Giang, Hoài, Tô, Hoản ở phía nam Từ Châu, đó là người Từ – vùng đất chủ yếu của Hổ tộc thời xưa. Những chạm trổ chủ yếu trên đồ đồng thời kỳ Thương chu là đầu hổ và mặt thú.

Ở góc độ cá nhân, tại nước Mỹ có một người tên là Dennis Avner có sở thích kỳ lạ là sống trong hình hài loài hổ và đã qua nhiều lần phẫu thuật, chỉnh sửa cơ thể nhất thế giới để cho giống một con hổ, ông luôn bị ám ảnh bởi khuôn mặt của những con mèo cái hung ác hoặc những con hổ, sau đó, ông đã mất một thời gian dài theo đuổi nỗ lực biến mình thành người hổ (hóa hổ), cơ thể trở nên giống với hổ, từ răng nanh, mái tóc dài, ria mép, tai, đuôi giả. Ông còn thích hàng ngày ăn thịt sống và leo trèo cây rất cừ đồng thời ông thỉnh thoảng xuất hiện trên truyền hình với biệt danh nữ diễn viên người Mỹ Angelina Jolie có hình xăm con hổ rất độc đáo trên eo lưng mình, tác phẩm ấn tượng này được thực hiện tại Thái Lan năm 2004, góp phần làm nên thành công của cô trong bộ phim Truy sát (Wanted). Một công ty ở Trung Quốc đã chế ra ấm trà hổ với trên vỏ ấm được chạm vẽ hình 99 con hổ rất tỉ mỉ với nhiều tư thế khác nhau, tạo nên một bức tranh hổ vô cùng sống động, hấp dẫn. Bảo vật này không lớn hơn ấm trà thường nhưng được làm ra từ đất sét trộn lẫn với những hạt vừng nghiền nát để tạo nên vẻ đẹp đặc biệt.

Huyền kỳ

Những câu chuyện kể về hổ, loài thú gieo rắc nổi khiếp sợ cho làng bản ở miền sơn cước, khi hồ về làng, bản thì các gia súc, vật nuôi, đặc biệt là chó rất kinh sợ khi đánh hơi thấy mùi nồng nặc của hổ

Câu chuyện về loài thú đầy bí ẩn trong rừng xanh sâu thẳm và sự tinh quái, bí hiểm đã khiến hổ trở thành trung tâm của nhiều câu chuyện kể, kéo theo đó là những đồn thổi, truyền miệng về những khả năng, tập tính kỳ lạ của loài vật này đến mức trở thành những câu chuyện khá hoang đường và dị đoan. Theo quan niệm của những người dân sơn tràng thì trong rừng con hổ là loài vật hùng mạnh và rừng thiêng nhờ có hổ dữ. Hổ còn rất tinh ranh và rất thính hơi. Nó có thể phân biệt được mùi của voi, gấu, nai và cả hơi người và dường như là loài vật có linh tính. Sự ám ảnh về loài hổ còn hằn sâu trong tâm khảm con người theo một cách vô thức, khi người ta đi vào một khu rừng, rú hoang vắng thì luôn có cảm giác sợ hãi, từ lâu hình ảnh loài hổ hung dữ, quật ngã, xé xác con người đã hằn sâu vào tâm trí nhiều người cho nên người ta một khi trông thấy hổ giữa rừng già, nếu không phải là người có kinh nghiệm đi rừng chắc chắn người ta sẽ hốt hoảng.

Vị chúa tể chí tôn của rừng xanh có uy quyền với những cú vồ chết chóc và tiếng gầm vang động, với dáng uyển chuyển và oai dũng, chậm rãi, đôi mắt hổ xanh biếc dữ dằn long lên sòng sọc với ánh mắt xanh lè quắc lên như nhiếp hồn, khi hổ xuất hiện thì một trận gió thổi qua mang theo mùi hôi thối lợm giọng, đi theo nó là mùi tanh tao chết chóc tạo ra không khí nặng nề, ngột ngạt, hổ xuất hiện giống như một cái bóng chớp nhoáng mờ ảo, trong làng gà không gáy, chó không sủa, trên rừng, dế, nhím, chồn, cáo đang kêu tự nhiên im như thóc. Nhiều người thợ săn rất ngán sợ khi gặp hổ và truyền nhau kinh nghiệm đi rừng rằng nếu vào một khu rừng mà không nghe tiếng chim hót, không thấy bóng một con thú nào, thì khu rừng đó có hổ vừa đi qua, hổ có mùi đặc trưng là rất thối và tiếng gầm kinh hoàng của hổ, làm cho chim chóc cũng không dám hót. hoặc khi nghe tiếng chó săn sủa loạn xạ, kèm theo đó là tiếng chim kêu rít lên từng hồi thì đó là dấu hiệu có hổ dữ xuất hiện. Thợ săn ai cũng tin rằng rừng thiêng có chủ nhân của nó và tốt nhất là nên tránh mặt hổ mỗi khi lỡ gặp.

Một số người Việt Nam tin rằng hổ có linh khí, một số người nuôi hổ cho biết linh khí của hổ có nhiều, nên trong bán kính gần 1 km, không có con vật nào dám bén mảnh đến, kể cả giống chó săn cũng không có con nào dám đến gần những con chó săn khi đánh hơi thấy hổ là đã không dám đánh hơi tiếp nữa mà cứ quanh quẩn bên con người Ở Miền Tây sông nước, khi đang đi rừng mà thấy đàn chó săn cụp đuôi, sợ sệt co cụm lại là dấu hiệu nhận biết con hổ đang ở gần và họ chọn giải pháp là lùa bọn chó xuống xuồng, rút êm để khỏi phải đối đầu.

Xem thêm :  Hình xăm "sói hú nhìn trăng": ý nghĩa và phác thảo hình xăm chó sói hú trên nền trăng và rừng, các ví dụ khác về hình xăm cho nam và nữ

Người dân kể rằng hổ nhiều lần xâm nhập vào các bản, làng, khu dân cư để bắt trâu, bò, nghé, bê, heo, dê, gà và chó. Các loại gia súc, vật nuôi và cả người rất sợ hổ, khi nghe tiếng hổ gầm rung cả mặt đất, rung cả lán trại làm người ta rợn hết người, đàn bò thì sợ hãi đứng tụm vào nhau, đàn chó thì chạy chui hết vào gầm, dưới sàn nhà, các xó xỉnh mà không dám ló mặt ra, chúng im hơi và chẳng con nào dám sủa. Hay khi hổ vào làng bản, nhà dân thì đàn chó nhà khép nép vì sợ hãi núp ở trong góc sân và hổ quá dễ dàng vồ bắt lấy một con chó rồi cắp lấy đem xác lên rừng, một số con hổ ở làng bản nhiều lần mò vào bắt chó ăn thịt nên bén mùi.

Đồng bào còn kể lại rằng khi hổ về bản thì có nghĩa là sẽ mất lợn, mất trâu, mất cả đàn dê vì những con dê rất dốt, thấy hổ chúng không biết chạy mà chỉ đứng kêu khóc be be còn đàn trâu bò thì nhớn nhác, có con vì sợ quá mà lăn cả xuống vực thẳm, có con thì chạy trốn mất tích, hổ thậm chí có thể chỉ một nhát vồ chết con nghé rồi cắp theo con mồi nhảy phốc qua hàng rào cao 3m.

Hình tượng con hổ trong văn hóa
Sự ám ảnh của hổ trong tâm trí nhiều người một cách vô thức dẫn đến tâm lý nhiều người khi đi vào một khu rừng vắng luôn có cảm giác ghê sợ

Một số người dân tộc còn quan niệm rằng hổ là có thiên tư linh mẫn, tai nghe thấy hết mọi sự người ta nói, óc cảm thấy hết những gì người ta nghĩ, nên hễ ai dám báng bổ, khinh nhờn hay hỗn xược, thì nó trừng trị cho khốc hại thì thôi, nhẹ thì hổ bắt đi con bò, con lợn để cảnh cáo, nặng hơn thì nó sẽ cắn cổ và hổ vốn thù dai. hổ là con vật không chỉ mạnh khỏe, hung dữ, tham lam và kiên nhẫn trong việc rình mồi mà nó còn là một ông chúa thù dai và quyết trả thù bằng được nó sẽ nhớ và tấn công người nào đã đánh nó, nhất là thần hổ báo thù thì vô cùng khốc liệt, nhiều con hổ được cho là hóa thân của những vong hồn hổ đã bị giết trước đó trở về báo thù dân làng. Nhiều thợ săn tin rằng hổ là loài vật có tánh linh hay có linh tính có thể nhận biết hơi người, tránh các loại bẫy Kenneth Anderson thì cho rằng hổ dường như có một giác quan thứ sáu thật sự sắc sảo và nó có thể phân biệt giữa một con người không có vũ khí và một người đàn ông có vũ trang đang theo đuổi nó

Một quan niệm khác thì cho rằng hổ có một thói quen lạ, nếu vồ người, cắn cổ hoặc tát chết, nó tha vào rừng ăn thịt. Nhưng nếu cú vồ của nó chạm vào tai của con mồi thì nó sẽ bỏ đấy mà không ăn thịt. Một kinh nghiệm khác thì hổ thường không dám chạm vào những cành lá nằm úp sấp (tức mặt dưới của lá nằm ngửa lên trời) do đó những người săn hổ hay bố trí các đám lá úp trái để ngăn hổ không đến gần những nơi bẫy chưa chắc chắn. Hổ cũng có khả năng giả chết, nó có thể nằm lỳ cả ngày giống như chết.

Bên cạnh đó, sự sùng bái đến mức mê tín hoang đường còn thể hiện qua việc người ta thường làm chiếc nanh hoặc vuốt hổ, hoặc răng hổ bịt vàng bạc hoặc chiếc vuốt làm bằng sứ, kim loại cho trẻ con đeo để trừ tà ma, hoặc người lớn cũng đeo cho đẹp và tỏ ra oai vệ, người Campuchia khi giết hổ thường lấy nanh hổ đánh bóng bán làm vật trừ tà, Người Hoa ở Bắc Giang thường đeo vòng đeo tay bằng kim khí có đính móng hổ, vuốt gấu để hộ mệnh, trừ đuổi vía độc hay làm hại trẻ em. Tuy nhiên, thần uy từ chiếc nanh hổ có thể hợp với người này nhưng lại không tốt đối với người khác, may mắn với người này nhưng lại là tai họa với người khác, rất khó biện chứng về tâm linh.

Nhiều người quan niệm rằng, hổ là chúa tể của rừng xanh nên hội tụ đủ sức mạnh thiên nhiên, chúng ăn toàn thực vật quý, uống nước rừng, sống trong rừng sâu nên hấp thụ được linh khí của đất trời. Hổ càng già thì nanh càng lớn và uy lực của nó càng mạnh. Người nào sở hữu được chiếc nanh hổ tinh đã ăn thịt nhiều người thì sẽ không sợ con vật hung dữ nào và các loài chó sói, gấu, rắn hổ chúa khi nhìn thấy bóng vía là chúng sẽ quỳ xuống đồng thời việc đeo móng hổ còn giúp chủ nhân tránh bị tà đạo, ma quỷ làm hại, đạn bắn không trúng, tạo phong cách ngầu của người đeo. Nhiều người khác lại cho rằng móng hổ là vật bùa là vì con hổ trước khi kết thúc sự sống của con mồi bằng bộ hàm thép thì nó cần những chiếc vuốt chụp và bấu chắc vào con mồi làm cho con mồi không còn cơ hội trốn thoát, những người khởi nghiệp muốn sở hữu những chiếc vuốt để nắm chắc hoặc tìm kiếm cơ hội chiến thắng trong cuộc sống cũng như trong thương trường. Tại tỉnh Cà Mau từng có thời kỳ đột nhiên nổi lên tin đồn những người tuổi Sửu, tuổi Ngọ, trong năm 2010 nếu không uống thuốc sẽ bị cọp vật, Tin đồn thất thiệt này khiến người dân hoang mang, đổ xô đi mua “thuốc” phòng ngừa, gây xáo trộn đời sống.

Xương hổ nếu được dùng để gối đầu thì ngủ yên không chiêm bao thấy những sự ghê sợ, hoặc treo lên giữa cửa nhà sẽ trừ được ma quỷ. Những người thợ trước khi nấu cao hổ thì người ta thường có nghi lễ cúng bái, có người còn mời thầy cúng về cúng vì nếu không sẽ bị lừa lọc, vỡ nợ, tán gia bại sản hoặc rơi vào vòng lao lý, đi tù vì ông hổ sẽ không cho sống đàng hoàng. Người Sán Dìu thì đem bộ da Hổ đem phơi khô, nhồi trấu vừa làm vật trang trí trong nhà, vừa làm bùa hộ mệnh vì bộ da là dáng hình và linh hồn con Hổ còn quanh quẩn, vừa để bảo vệ mọi người may mắn về sức khoẻ và an toàn cho các thành viên trong gia đình, ít khi gặp ốm đau và bệnh tật

Có giả thuyết cho rằng, râu cọp (hổ tu) cũng là một trong những thành phần chủ yếu của trò chơi ngải của các thầy phù thủy ma giáo đồng thời còn đó là quan niệm của một số người cho rằng râu hổ cắm vào búp măng tre có thể chế thành ma thuốc độc hại người để làm giàu, nhiều thợ săn tin rằng, chỉ cần đem một sợi râu cọp nhét vào trong thân một cây măng non đang mọc sau này nó sẽ biến thành một loài sâu có sức độc vô cùng khủng khiếp và người xưa tin rằng nếu để râu cọp rơi vào tay kẻ có ác tâm sẽ gây ra nhiều hậu họa chính vì vậy những người thợ săn sau mỗi lần hạ được hổ thì việc đầu tiên họ cần làm là đốt đuốc thiêu rụi hoàn toàn bộ râu hổ đi hoặc cắt râu đi trước khi xẻ thịt vì râu hổ có thể chế thành thuốc độc hại người.

Ghê sợ và bài trừ

Bài chi tiết: Hổ vồ người và Săn hổ

Sự tinh ranh của hổ luôn làm con người sợ hãi chính vì thế luôn tồn tại hai ý niệm về loài hổ, sùng bái và khinh ghét

Bên cạnh những ý niệm ngưỡng mộ dành cho hổ thì trong dân gian nhiều nước vẫn tồn tại luồng ý niệm sợ hãi, nỗi khiếp sợ, sự khinh ghét và ý muốn chế phục loài hổ, xuất phát từ nỗi khiếp sợ về sự phá hoại của con hổ đối với con người như là loài vật ăn thịt có bản tính ác độc, hổ hay ăn thịt người, vồ người gây kinh hoàng và gieo rắc tại vạ cho người dân hoặc hoành hoành ăn thịt, giết hại gia súc, vật nuôi của con người, gieo rắc nhiều tai ương cho con người do đó người ta sẵn sàng triệt hạ loài hổ. Ngoài ra những giá trị, lợi ích kinh tế từ hổ và các sản phẩm từ hổ như: cao hổ cốt, bộ da hổ, pín hổ, móng, vuốt hổ đã khiến nhiều người nhìn nhận hổ như là một đối tượng kinh doanh, săn bắt, nuôi nhốt.

Nhiều người vẫn coi hổ là thú dữ, là kẻ thù của con người với truyền thuyết hổ thành tinh, là những con hổ to, thích ăn thịt người, tinh khôn biết cách tránh được các loại bẫy của con người. Nhiều con hổ được dân gian cho là đã thành tinh tức chỉ về những con hổ tinh không thoát khỏi các loại bẫy, những đoàn thợ săn phục kích hổ do loài này vốn rất tinh ranh, nó đi được một đoạn lại dừng bước, ngoái nhìn ra phía sau, do vậy để theo dõi mà không bị nó phát hiện không phải là điều dễ dàng, hổ cái mũi rất thính và loài hổ rất thính hơi, nó có thể phân biệt được mùi của voi, gấu, nai và cả hơi người, chúng đi nhẹ như con chuột chạy và không để con người biết được dấu vết đi lại trong rừng. Cũng có quan niệm cho rằng những con hổ chúa đã thành tinh còn là hóa thân của những vong hồn cọp đã bị giết trước đó trở về báo thù dân làng Người Việt Nam còn có quan điểm rằng hay tín ngưỡng rằng những con mãnh thú quá hung hãn, mạnh khỏe khác thường là đã thành tinh, đã có linh hồn, trong đó hổ là loài vật nguy hiểm nhất, những con cọp ba chân cũng là hình tượng thường xuất hiện trong các giai thoại mãnh thú thành tinh lúc xa xưa đặc biệt là những con hổ trắng khi đã ăn thịt người thì sẽ hung hãn và hung tợn hơn bất cứ loài thú nào.

Trong một dị bản phụ lục Lĩnh Nam Chích Quái, có truyện Trành hay Ma trành là quỷ hiển linh về thần hổ đời Lê Mạt có tính cách mê tín. Trành là linh hồn người bị hổ ăn thịt biến thành tinh của hổ, thường dẫn đường cho hổ đi bắt người, khi có dịp lại hiện ra thành hình người. Thần hổ có nơi gọi là ma khái, hoặc hùm tinh. Ở Trung Quốc có thành ngữ chữ Hán vị hổ tác trành nghĩa là làm ma cho cọp ngoài ra trong niềm tin của một số dân tộc Miền Núi, có chuyện hổ biết nghe tiếng sáo Nhà văn Sơn Nam trích dẫn việc người dân Nam Bộ không những không sợ, mà có khi còn tỏ ra thân thiện qua tác phẩm Gia Định thành thông Chí của Trịnh Hoài Đức theo đó thì thái độ người dân đối với hổ vừa vừa kính nể, coi như vị thần nhưng cũng coi thường. Tuyệt đẹp, hung hãn, mau lẹ, sự quyến rũ và nỗi khiếp sợ với việc luôn sẵn sàng bất ngờ tiến công và xé nát con mồi, đó là bản chất loài mèo hùng mạnh này thể hiện một tổng thể các lực đẩy của bản năng vừa trá hơn vừa hung dữ hơn chó hoang và đặc biệt hổ lại có sức quyến rũ vì nó to lớn và hùng mạnh, dẫu rằng nó không có được oai vệ của sư tử. Bởi nó là một bạo chúa nham hiểm, không biết tha thứ. Mười tám thôn vườn trầu ở Hóc Môn ngày xưa, còn gọi là Thập bát phù viên cũng được lưu truyền bởi câu chuyện đặc biệt là loài vì vậy, trong dân gian thường truyền miệng câu “Hung dữ như cọp vườn trầu” Một truyền thuyết dân gian Hàn Quốc về bầy hổ dữ kể về thời xưa ở đảo Jindo thường xuyên bị hổ dữ quấy phá chúng vào làng, ăn thịt những người dân địa phương, tất cả dân làng quyết định bỏ chạy, di cư sang đảo Modo sinh sống.

Theo quan niệm khác thì khi Hổ xuất hiện trong giấc mơ khiến người ta lo sợ khi thức dậy. Sự xuất hiện đó khơi lại các nỗi khiếp sợ của con người khi con ác thú đến gần và thường là điểm chẳng lành. Trong tác phẩm Tam Quốc diễn nghĩa Hồi thứ 60, La Quán Trung có kể về chuyện viên tướng Mã Siêu ở Tây Lương đêm nằm mơ thấy một đàn hổ xé xác mình giữa trời tuyết, khi anh chàng này giật mình tỉnh giấc và kể lại câu chuyện cho Bàng Đức, ông này đã khẳng định đó là điểm chẳng lành, đúng lúc đó thì Mã Đại trở về cấp báo việc Mã Đằng, cha của Mã Siêu bị Tào Tháo giết hại cùng với hai người anh em là Mã Hưu và Mã Thiết. Người Mông ở Việt Nam có tục xếp 9 lớp đá đè lên ngôi mộ của người đã khuất, bởi họ sợ con ma sẽ hóa thành hổ dữ, bắt hết người thân, trâu bò, lợn gà của bản. Bắt đầu từ một điềm của một người thanh niên bị chết, một con hổ lớn xuất hiện ngay trước cửa, con hổ chỉ nhìn mọi người gầm gừ chứ không tấn công. Sau con hổ đi mất. Tuy nhiên, buổi sáng ngủ dậy, mọi người thấy trong nhà gà lợn đã bị con hổ bắt sạch, không còn một mống, và sau này cứ hễ có ai nhắc đến cái tên anh thanh niên quá cố thì con hổ lại xuất hiện, phá hết nương rẫy, bắt sạch lợn gà, trâu bò. Nó còn mò sang tận các gia đình bên các xã khác mỗi khi được gọi tên, khiến ai cũng hoảng sợ, cử một cụ trưởng bản ngồi nói chuyện với con hổ, cầu xin nó đừng tàn phá làng bản.

Trong biểu tượng

Trong văn hóa Phương Đông, Bạch Hổ là một trong bốn linh vật trong Tứ phương thần và biểu tượng cho phía Tây và mùa Thu.
Hổ gần gũi với đời sống con người nên có nhiều danh từ, thành ngữ mang tên hổ, thông dụng là ở Việt Nam và Trung Quốc: Con hổ oai hùng và đầy sức mạnh nên các võ tướng dũng mãnh, thiện chiến của triều đình xưa thường được ví như cọp và tôn xưng là (ông tướng mạnh như cọp). Trong chiến trận, đoàn quân bị mất tướng, coi như quân vô tướng như . Ấn tín của quan võ hay các vị tướng nơi trận tiền gọi là Hổ phù khi được cử ra trận, vị tướng cầm quân được nhà vua giao cho cái phù hịêu làm tin. Phù hiệu này làm bằng gỗ, bằng ngà hay bằng kim loại, khắc hình con cọp, cắt làm đôi, viên tướng được cầm một nửa, nữa kia nhà vua giữ, người nào nắm trong tay Hổ phù thì có thể điều động được binh lính.

Nơi ở và làm việc của quan võ, doanh trại của tướng quân chỉ huy quân sự cổ được gọi là hay , cánh cổng vào doanh trại được gọi là , cửa ra vào dinh của các tướng soái hay khu vực làm việc có treo bức trướng thêu hình hổ gọi là . Đào Duy Từ có tác phẩm quân sự trứ danh mang tên Hổ Trướng Khu Cơ là một bộ binh pháp kinh điển của nền quân sự Việt Nam. trong Truyện Kiều có câu: , ngày xưa người ta thường dùng da hổ làm thành cái màn lớn để chủ soái họp bàn nghị sự việc quân với các tướng, nên người sau quen dùng chữ Hổ trướng để chỉ chỗ làm việc của các tướng soái.

Bộ da lông hổ với những vệt vằn là biểu tượng sức mạnh của vị tướng, nó còn được nhiều thủ lĩnh, đại vương ở các dân tộc phủ lên ghế ngồi hoặc căn treo ở đại sảnh, làm tấm thảm. Trong dinh Độc lập, Nguyễn Văn Thiệu cũng đã từng căng da hổ ở đại sảnh. Người có bộ đi hùng dũng bước đi như cọp gọi là Hổ bộ và dáng đi của vua chúa cũng được gọi là tức dáng đi như rồng như cọp. Người được gọi là Hổ đầu là người có tướng mạo tốt, hùng dũng như cọp. Mặt người có mặt cọp (hổ diện), miệng cọp (hổ khẩu) và râu cọp (hổ tu) như hình tượng của Từ Hải trong Truyện Kiều là người có tướng mạo của một người anh hùng hoặc Trương Phi vểnh râu hổ. Mình hổ dùng để chỉ những người có cơ thể hoàn hảo, đầy sức mạnh (). Hổ bôn là những người khỏe mạnh nhanh nhẹn và được gọi lên như . Hổ cứ tức cọp ngồi là chỉ đạo vào địa thế hiểm yếu. Hổ đầu tức đầu cọp cũng chỉ vào tướng mạng hùng dũng. Hổ lang chỉ về phường hung ác, tướng tá tả hữu gồm người khoẻ mạnh thì gọi là .

Bài chi tiết: Biểu tượng quốc gia và Linh vật

Một huy hiệu có biểu tượng con hổ

Ngày nay, hình ảnh con hổ được sử dụng làm linh vật, biểu tượng, biểu trưng, phù hiệu, huy hiệu, cờ hiệu, nhãn hiệu của nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ, các tổ chức, hãng kinh doanh, công ty, cộng đồng, dòng họ, các võ phái, câu lạc bộ…. trong đó thường là biểu tượng của nhà nước và các lực lượng quân sự võ trang. Nó cũng được tìm thấy trong nhiều huy hiệu thời hiện đại.

Hổ Bengal là biểu tượng quốc gia (Quốc thú) của cả hai quốc gia Ấn Độ và Bangladesh. Hổ Bengal cũng xuất hiện trên hầu hết các tờ giấy bạc của Bangladesh (Bangladesh Taka) và đồng xu 25 cent (poisha). Hình tượng Con hổ Tippu (Tipu’s Tiger hay Tippoo’s Tiger) là một ví dụ về tầm quan trọng trong nhận thức về con hổ đối với người dân Ấn Độ như là một biểu tượng của sự phản kháng chế độ thực dân Anh dành độc lập dân tộc, biểu tượng ước lệ này mô tả cảnh một con hổ giết chết một tên lính Anh và đây là biểu tượng rõ ràng về chiến thắng của người dân Ấn Độ đối với đế chế thuộc địa của người Anh.

Tại vùng Nam Á, hổ Bengal được gọi một cách trang trọng là hổ Hoàng gia Bengal (Royal Bengal Tiger). Hổ Bengal là biểu tượng của đảng bảo thủ Liên đoàn Hồi giáo Pakistan Nawaz. Con gái của nhà lãnh đạo đảng này là Maryam Nawaz sử dụng hổ trắng quý hiếm trong các sự kiện của mùa tranh cử. Những thành viên của chính quyền miền Đông Bengal (tiếng Bengali: ইস্ট বেঙ্গল রেজিমেন্ট) của Quân đội Bangladesh cũng sử dụng Hổ Bengal làm phù hiệu cho mình với hình ảnh khuôn mặt của một con hổ. Biểu tượng của đội bóng chày Kolkata của Ấn Độ là một con hổ hoàng gia Bengal, đồng thời Đội bóng chày Bangladesh cũng sử dụng hình ảnh của hổ hoàng gia Bengal.

Hổ Mãn Châu là biểu tượng quốc gia của Nam Hàn và là linh vật trong Olimpic tổ chức tại Seul, Hàn Quốc (chú hổ Hodori – Hàn Việt: Hổ nhi). Hổ Mãn Châu được mô tả trên các lá cờ và huy hiệu của vùng lãnh thổ Primorsky, trên huy hiệu của vùng lãnh thổ Khabarovsk, cũng như trên nhiều huy hiệu biểu tượng của thành phố và quận, huyện trong khu vực vùng Viễn Đông nước Nga. Ngoài ra nó còn được mô tả trên các huy hiệu của Irkutsk. Hổ Mã Lai là biểu tượng quốc gia của Malaysia. hổ Mã Lai được khắc họa trên quốc quy của Malaixia, biểu tượng của chính quyền, pháp đình cũng như biểu tượng của lực lượng cảnh sát hoàng gia Malaixia, ngân hàng quốc gia và là logo của Liên đoàn bóng đá Mã Lai. Cùng với sư tử, Hổ Mã Lai được thể hiện trên Quốc huy của Sigapore như một biểu tượng của nước này.

Một số đơn vị, bộ phận vũ trang của quân đội một số nước cũng sử dụng tên gọi của hổ làm biểu tượng cho mình như: Trong lịch sử thời cổ của Trung Quốc, Cơ Phát đã chỉ huy 3000 quân Hổ bí (võ sĩ tinh nhuệ) từng tham chiến trong Trận Mục Dã. Trong thời kỳ Tam Quốc ở Trung Quốc, triều Đình Tào Ngụy đã tổ chức và xây dựng Đội kỵ binh tinh nhuệ có tên là Hổ Báo Kỵ do Tào Thuần trực tiếp chỉ huy và từng tam chiến trong trận Đồng Quan đánh thắng lực lượng Tây Lương do hổ trướng Mã Siêu chỉ huy. Thừa tướng nước Ngụy là Tào Tháo lúc bấy giờ cũng xây dựng một lực lượng bảo vệ thường trực với tên gọi là Hổ Vệ quân do Hổ hầu Hứa Chử đích thân chỉ huy. Ở Nhật Bản thời kỳ Mạc Mạt có Bạch Hổ đội (Byakkotai) tham chiến trong trận Trận Aizu khi đó thành phần đội này chủ yếu là những người trẻ tuổi chủ yếu ở tuổi thành niên, samurai-nổi tiếng vì đã mổ bụng tự sát (seppuku) trên núi Iimori, nhìn xuống thành.

Hình tượng con hổ trong văn hóa
Xe tăng Tiger II

Tại Mỹ, cư dân Columbia đã thành lập lực lượng vệ sỹ gia đình, lực lượng đã trở nên với cái tên “Fighting Tigers of Columbia” (tức Mãnh Hổ Columbia), sau này Đại học Missouri-Columbia lập một đội bóng bầu dục mới thành lập của trường nên được gọi là “Tigers” nhằm tôn vinh những ai đã chiến đấu để bảo vệ Columbia, ngoài ra còn có tiểu đoàn Những con hổ Louisiana (Louisiana Tigers) do đại tá Roberdeau Wheat chỉ huy từng tham chiến trong trận Chiến dịch Thung lũng 1862, thời hiện đại, quân đội Mỹ còn có Sư đoàn không quân Phi Hổ của Hoa Kỳ (Flying Tigers) và Lực lượng Mãnh Hổ của lục quân Hoa Kỳ trong những trận thảm sát trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam.

Ở châu Á thì có Sư đoàn bộ binh Mãnh Hổ của Nam Hàn từng tham chiến tại Việt Nam. Tiểu đoàn Minh Hổ của Quân đội nhân dân Việt Nam từng tham chiến trong trận Chiến dịch Đông Bắc II. Quân lực Việt Nam Cộng hòa cũng sử dụng hình ảnh con hổ để biểu trưng cho một số đơn vị như: Tiểu đoàn biệt động Cọp đen của Sư đoàn 23 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Tiểu đoàn 42 Biệt động quân Cọp ba đầu rắn (KBC 4533), Tiểu đoàn Cọp Biển (tiểu đoàn 6) của Thủy quân Lục chiến Việt Nam Cộng Hòa từng tham chiến trong Trận Thành cổ Quảng Trị, căn cứ Lôi Hổ ở Tây Nguyên của Việt Nam Cộng hòa. Sau này, Lực lượng Những con hổ giải phóng Tamil hay còn gọi là Hổ Tamil sử dụng tên gọi và hình ảnh con hổ trên tất cả các biểu tượng và tên gọi liên quan đến tổ chức này đặc biệt là sử dụng cho biểu tượng của các lực lượng vũ trang (Lực lượng Hổ biển hay Hải hổ: Biểu trưng về lực lượng hải quân của Hổ Tamil, Phi đội Hổ Bay chỉ đến lực lượng không lực của Hổ Tamil, lực lượng Hổ Đen chỉ về đội quân chuyên đánh bom liều chết của lực lượng này.

Một số loại vũ khí sử dụng sức mạnh công phá lớn được gọi là , thanh đao được ví như hổ với câu: . Thanh kiếm của Kondō Isami được gọi là Hổ Triệt – “Kotetsu” (虎徹), là tác phẩm của một thợ rèn thế kỷ XVII tên là Nagasone Kotetsu, thực ra có thể được làm bởi Minamoto no Kiyomaro, một thợ rèn kiếm danh tiếng cùng thời với Kondō. Nhiều máy bay chiến đấu được đặt tên theo loài hổ (tiger). Không quân Hoa Kỳ cũng sử dụng máy bay tiêm kích biệt hiệu con hổ Northrop F-5 vào những năm 1960 ngoài ra còn nhiều máy bay chiến đấu được đặt tên theo loài hổ như: Grumman F-11 Tiger, Grumman F11F Super Tiger, Fieseler F 2 Tiger, De Havilland Tiger Moth, Eurocopter Tiger. Trong Chiến tranh thế giới thứ II, cũng trong thời gian này, phe Đức Quốc xã đã chế tạo và đưa vào sử dụng những chiếc xe tăng lợi hại gồm 02 thế hệ là Xe tăng Tiger I và Tiger II, Sau này điện ảnh Nga dự lại bộ phim Tiger trắng (2012) để mô tả những trận kịch chiến với thế hệ xe tăng này. Còn có loại xe tăng P’okpoong Ho (Hán Việt: Bão Phong Hổ, Hanja: 暴風虎, tiếng Anh: Storm Tiger) là một loại xe tăng của Bắc Triều Tiên, xe tăng King Tiger -Tiger II (cọp vua) TVI của Đức, xe tăng Panzerjäger Tiger (P) Elefant. Về tàu chiến, có mười lăm tàu chiến của Hải quân Hoàng gia Anh từng được mang cái tên HMS Tiger, theo tên loài hổ, Hải quân Anh còn có Lớp tàu tuần dương trực thăng Tiger là lớp đầu tiên loại này của Hải quân Hoàng gia Anh Quốc, và cũng là những tàu tuần dương cuối cùng được chế tạo cho Hải quân Anh, xuất sắc nhất có chiếc HMS Tiger (1913).

Hình tượng con hổ trong văn hóa

Logo của Câu lạc bộ Hull City

Ngày nay, Câu lạc bộ bóng đá Đức là Bayer Muchen cũng được báo chí đặt biệt danh là con Hùm Xám xứ Bavaria. Cúp bóng đá vô địch các quốc gia Đông Nam Á trước đây còn có tên gọi là Tiger Cup do hãng Tiger Beer tài trợ. Đội bóng đá Hull City A.F.C. của Giải ngoại hạng Anh cũng sử dụng hình ảnh con hổ làm logo chính thức cho mình. Đại học Korea của Nam Hàn có biệt hiệu là và lấy hổ làm linh vật. Con hổ cũng là biểu tượng của Thế vận hội 1988 ở Seoul với hình ảnh là chú hổ Hodori (tiếng Hàn: 호돌이). Logo của Đội tuyển bóng đá Hàn Quốc là hình một con hổ cách điệu, bóng đá Hàn Quốc đã được biết đến là một mãnh hổ Đông Á với sức mạnh và tinh thần thi đấu quả cảm và đội tuyển bóng đá Hàn Quốc được đặt biệt danh là hổ Đông Á

Hổ cũng được sử dụng trong quảng cáo hàng hóa như xăng dầu và đồ ăn nhanh. Một số hãng sử dụng con hổ làm biểu tượng cho mình như dầu nhớt Essso với câu khẩu hiệu: “Mãnh lực của hổ” và “Ới!! ông ba mươi”, các hãng bia Tiger, bia Laruer in hình con hổ. Hãng hàng không Tiger Airways có logo với hình con hổ đang tung mình. Sau khi được giới thiệu năm 1951, đến những năm 70 của thế kỷ XX, hổ Tony bắt đầu được nhân hóa. Không chỉ là một biểu tượng quảng cáo do người đóng, hổ Tony còn có quốc tịch Mỹ gốc Italy và một gia đình đầy đủ với Hổ bà Tony, Hổ mẹ Tony, con gái Antoinette và con trai Tony bé, một phiên bản…gầy hơn của Tony và đang là linh vật của công ty Kellogg’s Frosted Flakes. Năm 1974, Tony đạt giải “Chú hổ của năm” trong một quảng cáo lấy bối cảnh năm con Hổ của Trung Quốc. Ở Đài Loan thì có Tiểu Hổ Đội (tiếng Anh: The Little Tigers; chữ Hán: 小虎隊), gồm ba thành viên Ngô Kỳ Long, Trần Chí Bằng và Tô Hữu Bằng, là ban nhạc của Đài Loan cuối thập kỉ 80, đầu thập kỉ 90 của thế kỷ XX

Con hổ còn là biểu tượng của kinh tế với thuật ngữ Con hổ về kinh tế (Tiger economy). Thuật ngữ những con hổ châu Á dùng để chỉ về các nên kinh tế của châu Á trỗi dây và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến kinh tế thế giới ngoài ra quốc tế cũng dùng hình ảnh con hổ để chỉ về những quốc gia có sự phát triển kinh tế chẳng hạn như Con hổ Celtic (Celtic Tiger, tiếng Celtic: ) chỉ về sự phát triển kinh tế ngoạn mục của Cộng hòa Ái Nhĩ Lan giai đoạn năm 1995 đến năm 2000, Con hổ Baltic (Baltic Tiger) chỉ về nền kinh tế các nước Estonia, Latvia, và Lithuania trong suốt thời kỳ khủng hoảng kinh tế sau 2000 và kéo dài cho đến giai đoạn 2006-2007, thuật ngữ là biệt danh của nền kinh tế Slovakia giải đoạn 2002-2007 hay thuật ngữ Con hổ Vùng Vịnh dùng để mô tả sự tăng trưởng kinh tế của Dubai kể từ thập niên 1990 cho đến nay. Con hổ xứ Nordic (Nordic Tiger) là biệt danh để chỉ về nền kinh tế của Iceland.

Để chỉ về tính cách, sức mạnh, chiến công, tên gọi, biệt hiệu, danh xưng của nhiều người, vùng đất có đặt tên theo loài Hổ hay tên gọi ví von về con hổ, Người La Hủ một dân tộc ít người ở Việt Nam cũng tự đặt tên cho sắc dân mình gắn với con hổ, theo đó “La” là hổ, “Hủ” là sóc, “La Hủ” nghĩa là mạnh như con hổ, khéo léo và nhanh như con sóc. Một số tên người về hổ có thể kể đến như:

Ở Việt Nam trong lịch sử có nhiều danh thần, võ tướng có tên gọi gắn với con hổ như: Phạm Bạch Hổ, Lê Như Hổ (vô địch đấu vật thời nhà Lê), Bùi Cầm Hổ, Hoàng Đình Hổ, Phạm Đình Hổ (còn có tên gọi là Chiêu Hổ), Nguyễn Huy Hổ, Tăng Bạt Hổ, nhà văn Phạm Hổ, Đào Văn Hổ, Đại tá Trần Văn Hổ, Trần Văn Hổ (Tự Đẩu) – nguyên là Đốc Phủ Sứ thời thuộc Pháp. Thời xưa thì có Tràng An tứ hổ (Nhất Quỳnh, nhì Nham, tam Hoàn, tứ Tuấn), Trường An thất hổ (bảy con hổ của kinh thành Thăng Long). Thời Tây Sơn có Tây Sơn thất hổ tướng trong đó có Hám hổ hầu Võ Văn Dũng. Nhà Nguyễn cũng có Ngũ hổ tướng của nhà Nguyễn và Ngũ hổ tướng Gia Định, Nguyễn Hữu Tiến được gọi là Hổ tướng còn người Bắc Hà thì gọi ông là Hổ Uy đại tướng, Long Hổ tướng quân Trần Hầu, Lê Văn Hưng của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa được các phóng viên chiến trường gọi là một trong ngũ hổ U Minh Thượng, võ sư Long Hổ Hội (tên thật là Lâm Hữu Hội) danh chấn xứ Bạc Liêu võ sư Ngô Bông còn được gọi là Lâm Hổ, nhà văn Trương Duy Toản bút hiệu Đổng Hổ.

Hình tượng con hổ trong văn hóa

Hùm xám là biệt danh của nhiều anh hùng trong đó phải kể đến là Hoàng Hoa Thám

Đặc biệt là danh xưng Hùm xám hay cọp xám, hổ xám. Trong tâm thức người Việt, thuật ngữ còn là tên gọi đặt biệt hiệu cho nhiều anh hùng, hảo hán ở Việt Nam, với cấu trúc cụm từ là Hùm xám và địa phương nơi thành danh, như Hoàng Hoa Thám được tôn xưng là , ngoài ra còn có ông Nguyễn Minh Kỳ nguyên Chủ tịch Quảng Trị còn được đặt biệt hiệu là , Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân Việt Nam Nguyễn Đình Bảy (tự Bảy Khiêm) được gọi là , ông Đặng Văn Việt, Chỉ huy trưởng các trận đánh trên đường số 4 của Việt Minh được người Pháp gọi là , Anh hùng Lao động Nguyễn Phong Lưu được gọi là , Nahria Ya Duck đệ Nhất Phó Thủ tướng Fulro được mệnh danh là Trong võ học, những cao thủ võ thuật Việt Nam danh chấn cũng được đặt biệt danh là hùm xám. Võ sư Mã Thanh Long cũng được đặt biệt danh là , võ sư Huỳnh Long Hổ được mệnh danh là võ sư Hà Trọng Ngự với tuyệt kỹ quyền ba chân hổ được tôn xưng là , võ sư Hà Trọng Sơn cũng có biệt danh là cùng với võ sư Lý Xuân Hỷ người được mệnh danh là . Người Việt còn dùng thuật ngữ hùm xám để đặt tên cho các nhân vật nước ngoài như Đội bóng Bayern Munich được báo giới Việt Nam đặt tên là , thủ môn José Luis Chilavert được gọi là .

Ở Trung Quốc có những người mang tên hổ như: Hoàng Phi Hổ, Đường Bá Hổ, Lôi Lão Hổ, Tô Hắc Hổ, Hàn Cầm Hổ, Hổ Tam Nương, Trần Hổ, Trương Văn Hổ, Thạch Hổ, Dương Hổ, Lý Hổ, Tào Hổ, Hàn Hổ (tức Hàn Khang tử), Hồ Sa Hổ, Nghiêm Bạch Hổ, Dương Hổ Thành, Chu Thiết Hổ, Triệu Bá Hổ hay Cơ Hổ, Chu Nguyên Hổ (朱元虎), Chiêu Hổ, Hoàng Đắc Công hiệu là Hổ Sơn, Đinh Đắc Tôn có ngoại hiệu là Trúng tiễn hổ (Hổ trúng tên), Đằng hầu Hổ (Đằng Hổ Quỹ), Mã Định Hổ (tự nhận là hậu duệ đời thứ 39 của Phục ba tướng quân Mã Viện). Thời Tam Quốc, Viên Thiệu được phong làm , Vu Cấm được phong chức Hổ uy tướng quân….Trong Tam Quốc diễn nghĩa, La Quán Trung dùng hình tượng con Hổ để mô tả về hình dáng của nhiều viên tướng và dùng nó để ví về các anh hùng như: Tôn Kiên được danh xưng là , Đổng Trác được xưng tụng là (con hổ dữ ở vùng biên) Lữ Bố được Tào Tháo so sánh với hình ảnh của con hổ. Hứa Chử được gọi là (tên gọi do Mã Siêu đặt, ban đầu có tên là , tức con hổ dại), ngoài ra thì còn có danh xưng Ngũ Hổ tướng thời Tam Quốc chỉ về các viên tướng có sức mạnh như: Quan Vũ, Trương Phi, Mã Siêu, Triệu Vân, Hoàng Trung. Trong tác phẩm Thủy Hử, thì có Yến Thuận biệt danh , Lý Vân ngoại hiệu là , Trần Đạt, (Hổ chắp cánh) Lôi Hoành, Điền Hổ, Lý Trung có ngoại hiệu . Thời Nhà Minh, Nỗ Nhĩ Cáp Xích được nhà Minh phong danh hiệu , triều Minh cũng phong cho Vương Đài làm Long Hổ tướng quân, La Nhữ Tài được gọi là , Ngạch Diệc Đô được xưng là Đại hổ. Thời nhà Thanh thì có danh xưng (10 con hổ ở đất Quảng Đông) trong đó có Tô Hắc Hổ ngoài ra cũng có ý kiến xếp Hoàng Phi Hồng vào số này.

Một số nước khác, các danh tướng cũng dùng tên gọi về Hổ để chỉ về mình như Takeda Shingen danh tướng thời chiến quốc Nhật Bản được gọi là , đối thủ của ông là Uesugi Kenshin còn gọi là Nagao Kagetora (長尾景虎) (Trưởng Vĩ Cảnh Hổ) sau đó đổi tên thành Uesugi Masatora (上杉政虎) (Thượng Sam Chính Hổ). Vị vua của Triều đại Mogol là Babur được đặt tên có nghĩa là hổ, Vị vua Sher khan của Hồi giáo, Tipu Sultan là những vị vua lấy con hổ làm biểu tượng. Viên tướng Nhật Yamashita Tomoyuki còn được gọi là con hổ Mã Lai. Võ sư Kim Chấn Bát được đặt biệt hiệu là Kim Phi Hổ. Radamel Falcao García được báo chí gọi là mãnh hổ (El Tigre), Arthur Friedenreich cũng có biệt danh Mãnh hổ. Tiger Woods vận động viên golf số 1 thế giới được lấy từ tên người bạn quân nhân Việt Nam của bố anh Vương Dang Phong, người khiến bố Woods đã đặt tên cho anh cái nickname là Tiger. Sau này cái tên Tiger Woods đã trở nên quen thuộc, thời điểm mà anh nổi lên ở tầm quốc gia với giải trẻ và nghiệp dư cũng là lúc anh được biết đến với cái tên đơn giản Tiger Woods. Ngoài ra còn diễn viên Liliane Tiger.

Hình tượng con hổ trong văn hóa
Vực Hổ Khiêu – Địa danh được đặt tên dựa theo động tác của một con hổ nhảy qua núi

Nhiều vùng đất, địa danh, công trình được đặt tên theo loài hổ như: Ở Trung Quốc có Long Hổ Sơn hay còn gọi là núi rồng-hổ, một địa danh linh thiêng của đạo giáo, Vực Hổ Khiêu tức hẻm sông Hổ Nhảy được đặt tên từ sự việc theo truyền thuyết, đây là đoạn sông xưa kia có một con hổ phóng từ bờ bên này sang bờ bên kia nên có tên là vực Hổ Nhảy (khiêu có nghĩa là nhảy – là phóng), Hổ Khiêu Hiệp (Hẻm núi Hổ Nhảy), tương truyền rằng để trốn khỏi một tay thợ săn, một con hổ đã nhảy qua con sông tại điểm hẹp nhất (rộng 25 m), do đó người ta gọi đây là hẻm núi Hổ Nhảy. Hổ Khâu, Hổ Môn nghĩa là “cổng hổ”, Người phương Tây thường biết đến Hổ Môn qua tên gọi xuất phát từ tiếng Bồ Đào Nha là Bocca Tigris (nghĩa là “miệng hổ”) hay Bogue, Hổ Lao Quan, Hổ Môn (trấn), Hổ Lâm, Cầu Hổ Môn, Đại Hổ Sơn (大虎山), cù lao Hổ Hạm (chữ Hán: 虎槛洲, Hổ Hạm Châu). Ngoài ra ở các nước khác còn có Sông Tigre ở Brazil, Sông Amba, Nong Suea (huyện) ở Thái Lan, và đặc biệt là sông Tigrit một trong hai con sông của dòng sông Lưỡng Hà.

Ở Việt Nam, tại Tiền Giang có vùng đất miệt vườn có tên gọi là Cù lao Ông Hổ là vùng đất sinh ra vị chủ tịch Tôn Đức Thắng, ngoài ra còn có Mỏ Bạch Hổ, Thị trấn Tăng Bạt Hổ, Cầu Bạch Hổ. Đặc biệt ở Nam bộ Việt Nam còn lưu truyền nhiều địa danh liên quan đến cọp như Đìa Cứt Cọp (ấp 4, Hưng Nhượng, Giồng Trôm, Bến Tre) là nơi có nhiều cọp tụ tập lại săn mồi và phóng uế bừa bãi, Sân Ngự (thị trấn Bình Đại, Bến Tre) là nơi theo truyền thuyết hàng năm vào mùa khô, cọp từ các nơi tụ tập về đây gọi là cọp hội dưới sự đầu lĩnh của chúa cọp bạch ba chân, Đồn Cọp (Phú Nghĩa, Chợ Lách, Bến Tre) là nơi cọp thường đến phá phách dân chúng mới lập mưu vây cọp lại, rồi báo cho tỉnh đưa lính về bắn, Mỏ Cày (Bến Tre) cọp ở đây rất nhiều do đó, người dân vừa cày, vừa đánh mỏ để cọp sợ không dám đến làm hại, rạch Ông Hổ (Long Hưng, Châu Thành, Tiền Giang), Rạch Gầm (Châu Thành, Tiền Giang) là nơi trước có nhiều cọp và chúng gầm thét vang động cả một vùng nên có tên Rạch Cọp Gầm, về sau, gọi tắt thành Rạch Gầm. đồng thời có các địa danh như suối Cọp và Hang Bạch Hổ (ở Định Quán), truyền rằng, trước kia, khi rừng rậm còn nhiều, có một cặp hổ trắng về ẩn tại núi Đá Voi, cặp hổ này không bắt người ăn thịt mà thường xuống nghe kinh Phật ở chùa Thiện Chơn. Sau này rừng bị phá dần, lại thêm chiến tranh, cặp hổ bỏ đi. Nhân dân cho là Hổ thần nên đặt tên hang là Bạch Hổ. Ngoài ra còn có Thác Hang Cọp ở Đà Lạt, tương truyền nơi đây ngày xưa là nơi trú ngụ của một con cọp cho nên mới lấy hang cọp mà đặt tên cho thác, hiện nơi đây có đặt tượng hổ cao khoảng 5m, dài 10m nằm trong khuôn viên của thác.

Uy danh của loài hổ còn ảnh hưởng đến tên gọi nhiều sinh vật hùng mạnh nhất trong họ mình hoặc có hình thức, cấu tạo giống bộ phận nào đó của cơ thể hổ. Có thể kể đến là về động vật có các loài như: rắn hổ, Họ Rắn hổ, rắn hổ chúa, rắn hổ mang Xiêm, Rắn hổ mang chúa, Rắn hổ đất, Rắn hổ trâu, Rắn hổ bướm các loại rắn hổ, một số loài rắn độc quý hiếm có tên hổ như rắn Hổ trâu, Hổ lửa, Hổ mang, Rắn hổ hành… cá hổ hay còn gọi là cá răng đao, Cá hổ kình, Cá hổ kình lùn, Cá nhám hổ, Cá giả hổ kình, Cá mập hay còn gọi là cọp biển, cá mập hổ, Cá hổ Xiêm, tôm hùm, Tép cọp, Bướm đêm hổ đốm tối, Ếch đồng hay còn gọi là ếch da hổ, Muỗi hổ (Aedes albopictus), Mực nang vân hổ, Diệc hổ cổ trần, Kỳ giông hổ, hổ Tasmania, con mèo thường được gọi là , về các loài thực vật có: cây lưỡi hổ, cây ba mươi, hổ bì, lá lưỡi cọp, cây ba mươi, Bách thanh hổ, Cỏ đuôi hùm, Lưỡi cọp, Hổ vĩ xám, Hổ nhĩ trắng, Tai hùm, Hổ bì, Lan da hổ, Bìm bìm chân cọp, Móng cọp xanh, Đơn lưỡi hổ, Vuốt hùm, Hài lưỡi hổ, Hổ trương, Hổ béo Trong kho tàng dược liệu y học cổ truyền, nhiều cây, lá mang tên hổ là vị thuốc dễ kiếm tìm có tác dụng chữa bệnh như Hổ thiệt, Hổ nhĩ thảo, Hổ trượng căn, Hổ phách, Hổ vĩ, còn có Chín vị thuốc tên hổ như Hổ kế (Cicus japonicus) Hổ thiệt (Aloe), Hổ cao (Siegesbeckia orientalis L) Hổ trượng căn (Polygonum cuspidatum sieh Znce) Hổ vĩ, hay hổ vĩ mép vàng (Sansevira trifasciata Prain var), Hổ phách (Succinum) Hổ chuối (Ptyas korros), Hổ mang, hổ đất, hổ lửa (Ophiophagus hannah), Hổ cốt (Panthera tigris L) hay Cao hổ cốt.

Trong văn học

Trung Quốc

,

.

,

,

,

.

Thế Lữ, (trích)

Hình tượng con hổ cũng xuất hiện nhiều qua văn học Việt Nam, bên cạnh những câu chuyện cổ tích xuất hiện từ lâu như như Trí khôn của ta đây, Cóc kiện trời, Thỏ rừng và hùm xám, Con hổ có lá gan chuột nhắt, Mèo vẫn hoàn mèo, thì hổ còn được nhắc đến trong các tác phẩm văn học thời cổ như: Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão, Lĩnh Nam Chích Quái, Mãnh hổ hành” (Bài hành về con hổ dữ) của nhà thơ Nguyễn Hành (nhà thơ), Truyện Kiều của Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu. Cũng như những tác phẩm thời kỳ cận đại và hiện đại như: Thần Hổ của Tchya, Đường Rừng của Lan Khai, Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh, Tây Tiến của Quang Dũng (với câu thơ: ), Như những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp và đặc biệt là bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ khi tác giả mô tả chân thực cảnh một con hổ trong vườn bách thú và hình dung ra hình ảnh của nó khi tự do trong rừng, thông qua hình ảnh con hổ, Thế Lữ dùng để biểu tượng về hình ảnh của một đất nước, dân tộc Việt Nam đang thời kỳ Pháp thuộc. Trong đó câu than thở đã trở nên trứ danh.

Trong truyện cổ tích Trí khôn của ta đây người Việt đã lý giải sự tích của những hình thù vằn vện trên mình hổ, con hổ được đóng vai trò là kẻ xấu và truyện nhằm đề cao trí khôn của con người trong công cuộc chống lại những loài thú giữ trong đó con hổ hiền lành, dại dột, bị người lừa. Trong truyện cóc kiện trời thì hổ đóng vai trò quan trọng, là một trog những con vật theo cóc lên thiên đình để kiện trời, hổ đóng vai trò quan trọng khi là con vật mạnh nhất trong đoàn quân của nhân gian, chính hổ đã xé xác thiên lôi buộc Ngọc Hoàng phải điều đình với đoàn quân của nhân gian.

Trong câu chuyện Chú Cuội, kể việc Cuội vào rừng sâu tìm cây thì trông thấy một cái hang cọp, có bốn con cọp con đang vờn nhau. Cuội liền xông đến vung rìu bổ cho mỗi con một nhát lăn quay trên mặt đất. Nhưng vừa lúc đó, cọp mẹ cũng về tới nơi. Nghe tiếng gầm kinh hồn ở sau lưng, Cuội chỉ kịp quẳng rìu leo thoắt lên ngọn một cây cao. Từ trên nhìn xuống, Cuội thấy cọp mẹ lồng lộn trước đàn con đã chết. Nhưng chỉ một lát, cọp mẹ lẳng lặng đi đến một gốc cây gần chỗ Cuội ẩn, đớp lấy một ít lá rồi trở về nhai và mớm cho con. Chưa đầy ăn giập miếng trầu, bốn con cọp con đã vẫy đuôi sống lại, khiến cho Cuội vô cùng sửng sốt. Chờ cho cọp mẹ tha con đi nơi khác, Cuội mới lần xuống tìm đến cây lạ kia đào gốc vác về.

Ngoài ra trong nhiều truyện kể dân gian, cọp đóng vai thần cứu tinh, như trong Tống Trân Cúc Hoa được truyền tụng trong giới người Kinh lẫn người Thượng phía Bắc, theo đó mô tả chi tiết Sơn Thần thương tình biến thành mãnh hổ, tình nguyện mang thư Cúc Hoa sang Tần. Trong câu chuyện Thoại Khanh, Châu Tuấn, hổ xuất hiện giữa rừng khuya, cọp cõng Thoại Khanh và mẹ chồng sang tận nước Tề để tìm chồng. Giai thoại đã được đưa vào Sách giáo khoa ở Việt Nam cho thấy hổ cũng là con vật có tình nghĩa, biết đền ơn xứng đáng người đã giúp đỡ mình.

Trong tuồng hát bội Hổ Thành Nhân, thế kỷ XIX cũng có kể chuyện hổ sinh ra người. Truyện dân gian có Ông Nghè hóa cọp chế diễu những người chưa đỗ ông Nghè đã đe hàng tổng. Giai thoại về bác Ba Phi(Nguyễn Long Phi, 1884-1964) ở Cà Mau còn có chuyện bắt cọp xay lúa, xử án cọp, người ta cũng kể câu chuyện về việc bác Ba Phi từng đánh bại hổ dữ, theo đó, ở vùng U Minh có con hổ đực rất khôn ngoan, nhiều người lạc chân trong rừng thường mất tích một cách bí ẩn mà người ta nghi bị nó ăn thịt, sau này khi nó bắt một người phụ nữ đang làm ruộng thì bác Ba Phi được mời tới để đánh hạ con hổ dữ này, một cuộc chiến quyết liệt đã xảy ra và bác Ba Phi đã đánh thắng con hổ.

Trong truyện Lục vân Tiên hổ cũng được bố trí xuất hiện ba lần một lần cởi trói cho tiểu đồng và đưa ra đại lộ, một lần dưới dạng du thần đưa Vân Tiên ra khỏi hang Thương Tòng và lần cuối, cọp bắt hai mẹ con Thể Loan bỏ lại trong hang Thương Tòng để quả báo nhưng không ăn thịt. Tác phẩm này, Nguyễn Đình Chiểu đã mô tả về hổ trên góc độ cái nhìn của nhân dân Nam bộ, theo đó hai diện mạo: khuôn mặt tự nhiên là ác thú vì Trên cơ bản, cọp vẫn là ác thú ăn thịt người do đó Trịnh Hâm mới bắt tiểu đồng trói vào gốc cây để trước cho hùm cọp ăn mày/Hại Tiên phải dụng mưu này mới xong/Vân Tiên ngồi những đợi trông/Trịnh Hâm về nói tiểu đồng cọp ăn (Truyện Lục Vân Tiên câu 875-878) và khuôn mặt cứu tinh, lại là một nhân vật hư cấu có suy tính khi hành động: Sơn quân ghé lại một bên/Cắn dây mở trói cõng lên ra đàng.

Hình tượng con hổ trong văn hóa
Hổ Shere Khan, con hổ tàn ác trong tác phẩm

Nhà văn Tchya đã phản ánh hình tượng con hổ vào tiểu thuyết Thần Hổ xuất bản năm 1937, và vào năm 1942 của tác giả Vũ Ngọc Phan (1902-1987). Trong tiểu thuyết này đã mô tả về Thần Hổ xuất thân từ những con hổ đã ăn thịt hơn trăm người, trong tai nổi lên hơn trăm tia máu đỏ, nghe được ngàn dặm, và nếu có chạm mình vào lá cũng không quên. Vị thần Hổ đây là con hổ xám, hổ vàng, và khi họp hội đồng cơ mật dưới gốc một đại thụ, vị thần Hổ thường trút bỏ bộ lông trắng, biến thành một ông già đầu râu tóc bạc đường bệ. Bị hổ vồ là có số, những kẻ bị giống mãnh thú ấy xơi đã có tên trong quyển sổ do thần Hổ giữ. Thật là một sự định mệnh, không sao trốn thoát được. Rồi những người mang họ Đèo trong truyện Thần Hổ của Tchya mà tất cả con cháu phải làm mồi cho hổ chỉ vì ông tổ của họ đã dám phạm đến một con hổ già, làm hắn chột một mắt và tuyệt đường sinh sản, là một họ rất am tường số mệnh. Sự báo thù thật là ghê gớm tất cả con cháu họ Đèo khi đã sa vào nanh vuốt hổ, người nào cũng bị móc mất một mắt và cắn xé mất hạ bộ. Thần Hổ ra oai và gieo vạ cho cả dòng giống những người đã dám phạm đến thần.

Ngoài ra, trong Truyện Đường Rừng, 1940, Lan Khai (1906-1945) kể chuyện Người hóa hổ, người và súc vật có thể hóa kiếp cho nhau. Hình ảnh của hổ với sự kỳ bí về bộ lông tráng lệ, oai phong lẫm liệt, và hành tung bí ẩn được thể hiện qua Trái Tim Hổ trong nhóm mười truyện Như những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp, đăng trên báo Văn Nghệ 1987, xuất bản thành sách 1988 theo đó ở bản Hua Tát có con hổ kỳ dị người ta đồn có trái tim khác thường, chỉ nhỏ bằng hòn sỏi và trong suốt, là bùa hộ mệnh cùng là vị thuốc thần. Hình ảnh con hổ qua văn học đã gây ảnh hưởng và điều kiện hóa đời sống tinh thần người dân với hình ảnh của muông thú đang và đáng được bảo vệ là tài sản thiên nhiên, uy dũng, hùng tráng diễm lệ và kỳ ảo, cọp là vẻ đẹp của một trần thế đang phôi pha. Tác phẩm (1985) của nhà văn Bá Dũng cũng nhắc đến truyền thuyết về con hổ có nghĩa.

Tây Phương

Bài chi tiết: Shere Khan

Trong văn học phương Tây, hổ đã gây cảm hứng đến nhiều người. Cả Rudyard Kipling trong và William Blake trong miêu tả nó như là con thú dữ tợn và đáng e sợ. Trong , con hổ Shere Khan là kẻ thù lớn nhất và nguy hiểm nhất của Mowgli, ông vua không ngai của rừng rậm nhiệt đới. Những chi tiết về con hổ cái Champawat và làm thế nào nó đã bị hạ sát có thể được tìm thấy trong cuốn sách Những kẻ ăn thịt người ở Kumaon (năm 1944), được viết bởi chính Jim Corbett. Tại thị trấn Champawat gần cầu Chataar và trên đường đến Lohaghat, người ta đã đặt một tấm bảng xi-măng, đánh dấu nơi con hổ bị hạ sát. Tuy nhiên, vị trí chính xác nơi mà các con hổ đã bị giết bởi Jim Corbett là gần hơn với vị trí hiện tại của nhà máy thủy điện đó là từ tấm bảng này khoảng 1 km (0,62 dặm).

Xem thêm :  Nguyên tắc phối màu !!

Nhưng trong truyện tranh của Bill Watterson, Hobbes là con hổ đôi khi thoát ra khỏi vai trò của nó như là một con thú để ôm ấp. Ở một khía cạnh khác là (), con hổ trong truyện Gấu Pooh của A. A. Milne, là con hổ luôn luôn đem lại may mắn và không bao giờ đem lại sự sợ hãi, sau đó hãng Walt Disney Television Animation sản xuất bộ phim My Friends Tigger & Pooh có xây dựng hình ảnh về chú hổ Tíc-gơ là chú hổ giọng khàn, hay di chuyển bằng cách nhảy tưng tưng bằng đuôi. Trong tác phẩm thì Yogi là con hổ tốt. Nhà văn Yann Martel đã đoạt giải năm 2002 với tiểu thuyết () về cậu bé Ấn Độ sống sót trên Thái Bình Dương với con hổ Bengal và đã được Lý An dựng thành bộ phim cùng tên.

Ở châu Âu, nhà thơ người Anh William Blake đã sáng tác bài thơ về hổ với tựa đề tạm dịch là Chúa sơn lâm và được coi là bài thơ hay nhất trong sự nghiệp của ông và là bài thơ thuộc thể loại văn tuyển (anthology) hay nhất ở Anh với những trích đoạn nghệ thuật mô tả sự rực rỡ và mãnh lực của hổ:

.
……..
?
?
……..

Khác

Trong văn học Ấn Độ, Tiểu thuyết Cọp trắng nguyên bản tiếng Anh The White tiger giải thiêng văn hóa Ấn Độ giải Man Booker 2008 tác phẩm mô tả việc xuất thân từ bóng tối nhưng Balram muốn làm cọp trắng, loài vật trong rừng mà mỗi thế hệ chỉ có một con, phá cũi vươn về thế giới ánh sáng. Khát vọng của Balram không dễ thực hiện được trong xã hội anh đang sống. Và cọp trắng Balram đã không từ thủ đoạn, kể cả giết chết ông chủ và mặc kệ số phận gia đình để một mình thoát khỏi bóng tối. trong văn hóa của người Khmer Nam Bộ, trong những câu truyện cổ phổ biến có 02 câu chuyện liên quan đến hổ là và câu chuyện nhằm nêu lên khát vọng về công lý và công bằng, tuy vậy nhân vật chính trong hai câu chuyện này lại là con thỏ.

Trong nghệ thuật

“Hổ tọa” tác phẩm của Kishi Chikudo khoảng đầy thế kỷ XIX

Trong văn hoá nghệ thuật, là một loài vật rất đẹp và có sức lôi cuốn nên hổ cũng là con mật được mô tả theo hướng trở nên gần gũi với con người, ngoài việc là đối tượng không thể thiếu trong các vườn bách thú và còn là diễn viên xuất sắc, thu hút nhiều khán giả trên màn bạc hoặc sân khấu xiếc. Hổ còn là đối tượng và là đề tài trong nghệ thuật điêu khắc, trong nghệ thuật gốm xưa Việt Nam và nhất là trong tranh dân gian Theo quan niệm dân gian Á Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, hổ là hình ảnh uy nghi, đầy ấn tượng, hổ tượng trưng cho sức mạnh và dân gian cũng đã thần thánh hóa hổ, cho hổ sứ mạng thiêng liêng có khả năng diệt trừ được ma qủy. Có hình hổ trấn giữ ở cửa thì tà ma không dám thâm nhập. Bởi vậy hình tượng hổ đã trở thành phổ biến trong đời sống văn học, nghệ thuật dân gian, đặc biệt hổ đã được vẽ thành tranh và tạc thành tượng để thờ ở các đền, đình, miếu, điện… Hổ cũng là đối tượng nghệ thuật hấp dẫn thể hiện trên các vật dụng sinh hoạt thường ngày, nhà cửa, nơi thờ tự…

Trong nghệ thuật, con hổ, biểu trưng cho sức mạnh, được dùng cho ngành võ bị, trang trí áo võ quan, miếu võ quan, trong chế độ phong kiến, khi rồng được dùng làm biểu tượng dành riêng cho vua chúa thì hổ được xem là biểu tượng của quan lại (quan võ) và cho đến thế kỷ XIX, hình tượng con hổ trong Văn hóa Việt Nam thời nhà Nguyễn đã có sự thể hiện đa sắc, đa diện từ sự mênh mông lan tỏa một cách trừu tượng hóa qua vị trí địa lý trong phong thủy đến định hình trong kết cấu kiến trúc, tên gọi di tích cụ thể, hay khắc dấu trên Cửu đỉnh, khoe cùng sương gió thời gian….Tất cả góp phần khẳng định vị trí hình tượng con hổ trong Văn hóa Nguyễn, góp phần tạo nên những nét đặc trưng của nền Văn hiến Việt Nam

Hội họa

Hổ được thể hiện trong nền hội họa của Phương Đông lẫn phương Tây, rất nhiều bức tranh vẽ về loài hổ. Với biểu tượng về sức mạnh, không chỉ ở phương Đông, rất nhiều nơi trên thế giới có đại hội sơn lâm và theo quan niệm ở châu Á, với tư cách là chúa tể, hổ đóng vai trò của quyền uy thống trị, có vai trò điều phối, chia khu vực sơn lâm cho các dã thú khác. Đó là vai trò anh hùng. Đến khi có chủ nghĩa anh hùng phong kiến thì hổ (cùng với đại bàng) là biểu tượng của anh hùng độc lập. Có thể thấy điều này qua những bức tranh cổ vẽ cảnh hổ đang gầm mặt trời. Lúc này, hổ là anh hùng giang hồ chống phá lại thể chế, không bị hàng phục dưới bất kỳ một chính thể tập quyền nào.

Ở Phương Tây thời cổ, Người ta cũng thu thập được những tài liệu qua tranh vẽ của nhữnghọa sĩ châu Âu sống vào khoảng thế kỷ XVIII và XIX, theo những tài liệu này thì sư tử thường là kẻ chiến thắng trong những trận đấu phân chia quyền lực trong các cuộc quyết đấu và loại tranh này xuất hiện trên cả huy hiệu của Hoàng gia Anh. Các họa sĩ theo trường phái cổ ở các nước Trung Hoa, Việt Nam, Hàn Quốc và Nhật Bản cũng vẽ rất nhiều bức tranh về loài hổ bằng các chất liệu truyền thống, người Việt Nam có tranh Đông Hồ mô tả về ngũ hổ, người Trung Quốc có tranh thủy mạc vẽ về hổ và rồng. Hội họa phương Tây cũng có nhiều tác phẩm hội họa bằng tranh sơn dầu hoặc những nét vẽ bằng bút chỉ để họa về hình tượng con hổ.

Người Hàn Quốc có bức họa thần núi (Sansindo) vẽ cảnh thần núi ngồi tựa hổ hay cưỡi trên lưng hổ và một số bức tranh, con hổ chính là thần núi trong quan niệm của người tạo tác. Nhưng trong những bức tranh khác, hổ lại xuất hiện bên cạnh một cụ già nhân từ đó chính là thần núi và hổ là loài hầu cận của ông này. Hổ tiếp nhận mệnh lệnh từ thần núi để trấn an cho làng xóm, cho từng gia đình, bảo vệ sinh mệnh cho người dân. Giới Phật giáo Hàn Quốc cũng treo tranh thần núi còn gọi là Sansintaenghwa mô tả một cách sinh động, hài hước về sơn thần và hổ. Người Hàn Quốc còn có bức tranh Jakhodo (Ác hổ đồ), tranh chim ác là và hổ. Chim ác là đang đậu trên cành thông xanh ngắt còn hổ thì ngước nhìn cành cây. Đây là hai loài vật rất được chuộng trong nghệ thuật dân gian Hàn Quốc, Chim ác là được quan niệm là dấu hiệu của điềm lành. Hổ là giống vật nhân từ bảo vệ con người khỏi tai ương. Còn cây thông tượng trưng cho tuổi thọ và sự trường tồn.

Vùng văn hóa Đông Á nói chung rất chuộng hổ, ngày Tết thích treo tranh hổ, một cử chỉ mang biểu tượng cá tính, đặc biệt, người Hàn Quốc hay treo những bức tranh Jakhodo trong nhà vào tháng Giêng âm lịch hàng năm vì có ý nghĩa ngăn ngừa điềm họa nên đã hình thành tập quán treo tranh vì người xưa cho rằng treo tranh trong nhà sẽ xua được hung khí để gia đình được an vui. Đề tài về hổ nếu gạt bỏ cái vỏ tôn giáo thì bản thân nó sẽ trở thành những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao như các tranh ngũ hổ, bạch hổ hay hắc hổ… do sự phối hợp đường nét, hình khối và màu sắc tài tình của nghệ sĩ đã tạo nên những bức tranh hổ đẹp, đầy sức sống mãnh liệt, biểu hiện trên nét mặt, chòm râu, ánh mắt sáng dội của hổ nhất là thế ngồi của hổ, với thân hình vạm vỡ, chắc khoẻ ngồi nghiêng trên thế chống thẳng tuyệt đối vững chắc của hai chân trước, càng làm tăng thêm sức mạnh của hổ luôn được khai thác.

Hình tượng con hổ trong văn hóa
Tượng đá chạm khắc về hình con hổ ở một ngôi đền của Nhật Bản, thông thường tượng hổ thường được đặt ở những nơi đền chùa chiền để trấn yểm

Hình tượng hổ đã xuất hiện từ lâu. Tượng hổ được tạc ở nhiều nơi trên thế giới. Riêng tại Việt Nam, trong các di tích văn hoá Ðông Sơn khai quật được, đã xuất hiện rất nhiều tượng hổ Hổ chính thức đi vào nghệ thuật tạo hình sớm nhất vào thời nhà Trần với những tượng hổ ở lăng Trần Thủ Độ, lăng vua Hiến Tông, hổ chạm ở bệ đá tại chùa Quế Dương (Hà Tây cũ) được lưu truyền đến những con hổ đá thời Lê ở Nam Kinh (Thanh Hoá). Trong các lăng mộ đời nhà Trần, điêu khắc đá chủ yếu là tượng người, tượng thú chầu và làm thần canh giữ cho thế giới vĩnh hằng của ông vua có vẻ đẹp trầm mặc và sinh động. Đặc biệt là Cọp Đá ở Lăng Trần Thủ Độ, tượng hổ ở lăng Trần Thủ Độ ở Thái Bình là một tác phẩm nghệ thuật đẹp trong nền nghệ thuật điêu khắc cổ Việt Nam và cũng là một trong những kiệt tác điêu khắc đá quan trọng của lịch sử mỹ thuật nước này. Mô tả Con cọp ở tư thế nằm, dáng vẻ ung dung, hai chân trước sải dài, hai chân sau thu gọn trong bụng, đầu ngẩng cao, đôi mắt lim dim, hai tai dỏng lên như đón nghe một tiếng động nào đó vọng về từ chốn xa xăm với cái đuôi mạnh mẽ. Khối đá không to như con cọp thực ngoài đời, nhưng nghệ thuật cổ đã khắc dựng một hình tượng có sức lay động.

Trong các đề tài vẽ, những con thú linh như long, lân, quy, phụng hoặc loài thú hiền như voi, ngựa, hươu, nai xuất hiện khá nhiều trên bề mặt loại đồ đựng thông dụng gồm đĩa, bình, lọ, âu… Riêng hình ảnh con hổ là loài dã thú thì khá hiếm hoi, tần
suất xuất hiện của hổ trên đồ gốm cổ Việt Nam còn thấp hơn các con vật bình thường khác như cá, chim, vịt, hươu, dù vậy sự hiện diện của hổ trên gốm Việt cổ khá sớm và có tính liên tục. Hình tượng hổ xuất hiện trên nhiều dòng đồ gốm khác nhau, với phong cách tạo hình khác biệt, tạo nên những dấu ấn riêng, độc đáo và thú vị, tựu trung lại, hình ảnh dũng mãnh và oai hùng của loài hổ luôn là một đề tài trang trí được các thợ gốm và những người sử dụng gốm sứ Việt Nam ưa chuộng. Chẳng hạn như có những hình gốm mô tả hình con hổ dáng đứng với hai chân sau, chân trước bên phải như con người vươn ra nắm khóm cây (giống cây tre), còn chân kia choãi ra sau, con hổ có cái đuôi dài đưa ra trước đến chấm đất. Cách vẽ nhân cách hoá này cho người xem cảm giác hổ đang vạch lá dọn đường đi vào thời Lê Sơ, cuối thế kỷ thứ XV. Đó là gốm Chu Đậu, xã Thái Tân, huyện Nam Thanh, tỉnh Hải Dương, ngoài ra, một số tác phẩm tiêu biểu như tiêu biểu nhất phải kể đến hình ảnh hổ khắc trên thạp đồng Vạn Thắng (Phú Thọ), tấm phù điêu nông dân đâm hổ ở đình Chảy (Hà Nam), bức chạm khắc gỗ hổ chạy ở đình Lỗ Hạnh (Bắc Ninh) và bức chạm khắc gỗ chàng trai cưỡi hổ ở đình Tiên Kỳ (Nghệ An). Nói chung tượng hổ thường được đặt ở những nơi đền chùa để trấn yểm.

Trong nền điêu khắc cổ Việt Nam thì mô típ hổ vồ mồi, hổ ngắm trăng, hổ và rồng, hổ và đại bàng… thường được dùng để diễn tả một sức mạnh, cái oai, một ý chí và khai thác chất thơ trong cái hùng của hổ – loài thú sơn lâm, trong nghệ thuật cổ Việt Nam khi mượn hình tượng hổ, những nghệ nhân không dùng cương để biểu hiện mà dùng cái nhu, cái mềm để biểu hiện chất hùng, chất thép mà khai thác ở ngay những hình ảnh bình thường nhất. Theo tín ngưỡng thì hổ tượng trưng cho vị thần bảo vệ, trấn giữ các phương chống lại tà ma, đảm bảo cho cuộc sống phát triển. Những mô típ hổ vồ mồi, hổ trông trăng, hổ và đại bàng, thường được dùng để diễn tả một sức mạnh, một ý chí và người ta còn khai thác chất thi vị trong cái hùng của loài chúa sơn lâm. Hổ cũng để lại dấu ấn trên Cửu đỉnh thời nhà Nguyễn, Hình ảnh con hổ được đúc vào Cao đỉnh, sánh cùng mặt trời, biển đông, con rồng, chim trĩ, hoa tử vi…tôn hết vẻ uy quyền, là một trong những đỉnh cao nghệ thuật tạo hình Việt Nam.

Hổ chạm thành khối tượng tròn trên đá thì rất nhiều nhưng nhiều hơn cả vẫn là hổ chạm nổi, chạm lộng trên gỗ. Hàng loạt đình làng ở Việt Nam, phần lớn là nông thôn, các nghệ sĩ dân gian đã để lại đời sau rất nhiều hình mẫu khác nhau về hình tượng con hổ đá. ở đình Chu Quyến (Hà Tây cũ) trong hoạt cảnh táng mả vào hàm rồng, con hổ chạy theo bước chân Đinh Bộ Lĩnh đang hăm hở và láu lỉnh đưa gói xương cốt vào miệng con rồng, nó vừa há miệng vẫy đuôi vui vẻ. Con hổ ở đây mắt ánh lên, răng hơi nhe ra nhưng người nghệ sĩ đã cho nó một dáng điệu rất dễ thương của con chó nhà. ở đình Đông Viên (cũng thuộc Hà Tây cũ) con hổ cùng với các chàng trai tinh nghịch xông vào mấy cô gái đang tắm trong đầm sen để đùa giỡn. Tiêu biểu nhất phải kể đến hình ảnh con hổ khắc trên thạp đồng Vạn Thắng (Phú Thọ), tấm phù điêu người nông dân đâm hổ ở đình Chảy (Hà Nam), bức chạm khắc gỗ hình con hổ đang chạy ở đình Lỗ Hạnh (Bắc Ninh) và bức chạm gỗ chàng trai cưỡi hổ ở đình Tiên Kỳ (Nghệ An), và còn rất nhiều hình tượng hổ ở nhiều đình miếu nằm rải rác khắp nơi trong nước.

Ở Việt Nam, hổ được xếp vào nhóm (những con thú canh gác nhà cửa, lăng mộ, đình, chùa, miếu mạo), là một trong những con vật được tạc trong các khu lăng mộ người Việt. Người Việt không sử dụng các tượng đá sư tử để trấn yểm và để tạo nên sự thiêng liêng, hùng tráng cho không gian này. Nếu cần có một con vật hung dữ, người Việt nghĩ ngay đến hổ/cọp và hầu như trong suốt lịch sử phát triển của lăng miếu của họ, hổ là con vật oai phong nhất, không gì thay thế được cho nên người ta cũng sử dụng hình ảnh con hổ để trấn giữa tại các lăng mộ của các bậc vua chúa, danh nhân, ngoài hình tượng con hổ đá ở lăng Trần Thủ Độ, Lăng mộ của Ngô Quyền cũng có tấm bình phong có hình con hổ, tuy nhiên đến nay cũng có giấy lên tranh cãi về tấm bình phong này vì theo thiết kế, con hổ này không có tư cách con hổ và nó giống như một con báo lai chó sói và nham nhở trông như một con quỷ.

Tượng hổ mạ vàng thường được đặt trong phòng khách để cầu sự thăng tiến và may mắn trong kinh doanh

Ở góc độ phong thủy, tượng hổ mạ vàng được coi là đại diện cho quyền lực do Hổ là con vật linh thiêng và đầy uy quyền thường được thờ phụng, đại diện cho chư vị tướng quân chuyên phù trợ chính pháp và từ đó nó là biểu tượng cho quyền lực, cho công danh và sự tăng tiến trong kinh doanh, Là pháp khí của công danh, tài lộc và quyền lực,chống lại tiểu nhân. Hổ dùng tiếp khí cho các cát tinh Lục Bạch, Bát Bạch và cũng có thể bổ trợ cho bản mệnh người tuổi Dần và cũng có thể dùng để trấn yểm khi nhà bị phạm vào cấm kỵ hoặc bị Sát tinh chiếu hướng do vậy tượng hổ mạ vàng được đặt ở nơi phòng khách, trên bàn làm việc.

Đồng thời, những người cầm tinh năm Ngọ, Tuất và Dần thì không nên bài trí hổ trong nhà vì bài trí hổ trong nhà sẽ dễ ốm đau, gặp xui xẻo trong công việc hoặc rất dễ gây nên bất hòa giữa các mối quan hệ trong gia đình. Đối với nhà mở cửa hàng kinh doanh, việc bài trí hổ cũng sẽ ảnh hưởng xấu tới uy tín và doanh thu của cửa hàng vì hổ bị coi là hung thú. Điều kỵ nhất là không nên bài trí hổ trong phòng ngủ (nhất là phòng ngủ vợ chồng) do đây là không gian cần sự kín đáo, riêng tư. Nếu bài trí hổ sẽ khiến vợ chồng có tâm trạng bất an, tình cảm cũng bị giảm dần. Nếu đặt con hổ đối diện với cửa chính sẽ khiến hàng xóm và những vị khách đến nhà cảm thấy bất an.

Múa

Trong hệ thống các vũ khúc cung đình triều Nguyễn, Long Hổ hội là điệu múa được nhiều thế hệ nghệ nhân cung đình Huế sáng tạo dựa trên cơ sở điệu múa tứ linh, là điệu múa được sáng tạo nhằm biểu hiện những sinh hoạt của hai loài vật Điệu múa được chia làm ba phần, trong đó phần “Hổ độc diễn” đã được các nghệ nhân cung đình mô phỏng theo những nét đặc trưng nhưng rõ ràng và dễ hiểu. Trên sân khấu, ngoài hình tượng con Long (Rồng) oai nghiêm mềm mại, thì hình tượng con Hổ đã được các nghệ nhân sáng tạo thông qua sự quan sát tinh tế những thuộc tính của con vật được coi là chúa tể sơn lâm. Long và Hổ vờn nhau thể hiện cuộc sống thanh bình, đất trời hòa hợp và cái đẹp chân thật của bản năng.

Nghệ thuật múa Hổ độc diễn được miêu tả bằng chuỗi hành động từ chậm đến nhanh và đạt đến cao trào với cách tạo hình động như: bắt đầu Hổ lăn một vòng 3600, tiếp đến Hổ quan sát xung quanh, đào đất, nhảy ngồi trên 2 chân sau, nín thở, đại tiện, lấp đất, ngửi, lăn đất, cọ lưng, giỡn bóng nắng, ngủ… Chuỗi hành động của Hổ độc diễn được các nghệ nhân tái hiện cực kỳ độc đáo. Cũng như hành động đẻ trong điệu múa cung đình , hình ảnh Hổ đại tiện được miêu tả không hề trùng lặp với một điệu múa cung đình nào nhưng đã gây bất ngờ và thú vị cho khán giả. Khi miêu tả Hổ đại tiện, các nghệ nhân cho rằng, Hổ là giống lớn nhất trong họ nhà mèo và chỉ duy nhất họ này biết che giấu khi đại tiện, đấy là sự khôn ngoan đặc biệt hơn hẳn các loài khác, kể cả con người. Chính vì vậy, khi sáng tạo nên nhân vật Hổ, những người nghệ nhân cung đình xưa đã miêu tả chi tiết này.

Khi biểu diễn hình tượng Hổ, người nghệ sĩ phải mang bộ lốt màu vàng đất vì Hổ ở đây chính là Hoàng Hổ tượng trưng cho đất. Do đó khi biểu diễn, Hổ có những động tác như: ngồi trên hai chi sau, hai chi trước chống đất, lạy ba lạy với ý nghĩa Đất phải chịu Trời. Khi người nghệ sĩ biểu diễn, hình tượng con Hổ trong điệu múa đã được nâng cao về mặt nghệ thuật, các thuộc tính của loài vật này chẳng những không làm cản trở, trói buộc sự sáng tạo mà càng khiến cho điệu múa thêm sinh động, uyển chuyển, mang nét đặc trưng riêng biệt, độc đáo và hết sức tinh tế. Điệu múa được kết thúc bằng hình ảnh Long đứng tấn, Hổ nhảy chân phải đứng trên chân trái Long, tay phải ôm vào cổ Long, tay trái đưa lên đối xứng với tay phải của Long. Đây chính là cách tạo hình mà nhiều thế hệ nghệ sĩ trước đây thường biểu diễn trong các ngày Gia Long khai quốc, Hưng quốc khánh niệm và những ngày khánh hỷ trong cung để cầu mong đất trời hòa thuận, người dân được hưởng thái bình an lạc.

Trong võ thuật

Bài chi tiết: Hổ hình quyền và Ngũ hình quyền

Trong võ thuật, hình ảnh con hổ hiện diện trong các hình thức biểu tượng, tư tưởng, phong cách và kỹ thuật chiến đấu. Theo quan niệm của người Á Đông hổ là hình ảnh tượng trưng cho sức mạnh và khả năng chiến đấu, sự hung hãn nhưng tinh ranh và xảo quyệt liều lĩnh cũng như bản năng tự vệ và chiến đấu cao, nói đến hổ là nói đến tính dũng mãnh, oai phong lẫm liệt, không chịu khuất phục. Những cuộc chứng kiến cảnh hổ quyết đấu, săn bắt cũng như những trận đụng độ với loài hổ khiến cho nhiều dân tộc ở châu Á tích lũy và bổ sung vào kỹ thuật chiến đấu của dân tộc mình với những thế võ, đòn đánh mô phỏng động tác của loài hổ. Khi ngắm hoạt động của loài cọp, các nhà sư Thiếu Lâm đã thấy được sức mạnh, sự dũng cảm và uy lực của chúng và đi tới kết luận đây là con vật có giá trị vô biên với tư cách một mẫu mực để noi theo rèn luyện võ thuật.

Trong võ cổ truyền của nhiều dân tộc, hổ là một trong số linh vật có vị trí chủ đạo. Hình tượng của hổ với những động tác, tư thế và sức mạnh phi thường của loài chúa sơn lâm được thể hiện qua nhiều bài quyền, thế võ, môn võ về hổ đặc biệt là các nước Trung Quốc, Việt Nam, Indonesia (với hệ phái Silat Harimau, tương truyền là khởi nguồn từ việc chứng kiến cảnh quyết đấu của một con hổ với chim đại bàng) cùng với những linh vật khác như Long, Xà, Hạc, Báo… với những đòn đánh lấy trảo (hổ trảo) làm căn bản, tấn công mãnh liệt, hiểm độc chớp nhoánh. Nhiều người cho rằng võ hổ ra đời ở Trung Quốc, căn cứ vào nhiều bài quyền của phái Thiếu Lâm hay Võ Đang. Tuy vậy, trong Pencak Silat của Indonesia, Karatedo của Nhật Bản, Kalari của Ấn Độ, võ cổ truyền Việt Nam cũng có những bài võ hổ đặc trưng.

Một bức họa mô tả cảnh hổ vồ trâu rừng, những kỹ thuật chiến đấu điêu luyện của loài hổ khiến con người mô phỏng và sáng tạo ra những chiêu thức võ hổ lợi hại

Trong tự nhiên, hổ là loài động vật thuộc nhóm động vật ăn thịt đầu bảng, với thân thể to lớn, bộ lông vằn vện, hàm răng khỏe, móng vuốt nguy hiểm, sức mạnh và tốc độ rất cao nên hổ được mệnh danh là chúa tể sơn lâm và ít khi có kẻ thù tự nhiên. Tuy vậy với môi trường rừng rậm với hệ sinh thái đa dạng, hổ cũng có những trận chiến đấu sống mái với các dã thú và con mồi cũng như những trận quyết đấu với những con hổ khác để sinh tồn, cạnh tranh lãnh thổ, giành quyền giao phối, bảo vệ con cái… những đối thủ của hổ đa dạng như voi, gấu, sói lửa trâu rừng, bò tót, và cá sấu, chúng còn giết cả tê giác khi đang sinh con, thậm chí có những cuộc quyết đấu với những con trâu nhà để ăn thịt chúng

Với kỹ năng chiến đấu tuyệt vời, sức mạnh và sự lanh lẹn hung dữ của mình hổ đã làm các loài vật khác phải khiếp sợ, khả năng chiến đấu của hổ rất cao, đặc biệt là hổ trảo, hổ thường tận dụng sức bật, sự dẻo dai cùng móng vuốt sắc nhọn và các cú vả, bạt như trời giáng khi cận chiến với đối thủ cùng với những vũ khí của hổ như hàm răng nanh dài nhọn, rằng hàm khỏe, bộ móng vuốt sắc nhọn, sức mạnh của những cú tát, cú vồ, những cú cắn chí mạng vào chỗ hiểm cùng tiếng gầm gừ dữ tợn. Hổ tuy có thân hình to lớn, nhưng di chuyển rất nhanh, mạnh Từ thời xưa, Khổng Tử đã có câu: phong tòng hổ (gió theo hổ), ông ta nói như vậy bởi vì hổ chạy nhanh như gió cuốn

Ngoài ra, đuôi hổ giữ vai trò quan trọng trong các động tác vồ, nhảy qua trái hoặc phải, xoay trở trước, sau, cùng với sức bật tốt, Nó có thể cắn họng một con bê, nhảy vọt qua hàng rào cao vài mét khiến hổ trở thành sức mạnh được coi là vô địch. Đối với con mồi thì hổ chế ngự con mồi của chúng từ mọi góc độ, thông thường từ những cuộc tập kích và cắn cổ, thông thường là để làm gãy cột sống hay khí quản của con mồi, hay làm tổn thương tĩnh mạch hoặc động mạch chủ. Đòn mạnh nhất của loài hổ là vả thật mạnh vào khu vực mặt và cổ của đối phương, với nanh vuốt cực sắc nhọn, chiêu đòn này thường khiến con mồi bất động ngay tại chỗ. Trong khi chiến đấu hổ còn có một tuyệt chiêu mà giới võ học gọi là với việc con hổ khi chiến đầu thường nằm ngửa, chổng bốn chân lên trời để thế để giết con mồi, nếu con mồi hoặc con người sơ ý nhảy vào tấn công là sẽ bị tấn công bằng một đòn chí mạng

Hổ thường chỉ tấn công con người trong trường hợp tự vệ vì con người không phải là con mồi ưa thích của hổ, tuy vậy cũng vì nhiều lý do khác nhau, hổ nhiều khi vồ, bắt và ăn thịt người. Khi gặp người hoặc rình bắt người, hổ sẽ tấn công bất ngờ từ đằng sau, nếu con người bỏ chạy giống như chó nó sẽ đuổi theo vồ, nhưng nhìn thẳng vào mắt nó, nó sẽ gườm đồng thời khi mặt đối mặt, con hổ sẽ thủ thế, lấy đà chụp mồi, nếu nó đập đuôi bên phải, sẽ phóng về bên trái, và ngược lại, vồ thẳng thì đuôi duỗi thẳng, Khi giao đấu với người, cọp luôn muốn đoạt vũ khí của người rồi mới dùng chân tát một cú chí mạng, hay vồ đến cắn xé, lúc muốn đoạt vũ khí, chúng sẽ giương vuốt và chồm lên, hổ thường tấn công theo kiểu lao lên không trung rồi phóng xuống chụp mồi, nên nó rất sợ có vật nhọn giương lên trời. Khi phóng đến con mồi, nó sẽ dùng cánh tay để thực hiện một cú tát, cú tát của hổ có thể hổ sẽ khiến cổ trâu, bò phải gãy, trẹo đi hoặc làm vỡ sọ của một con gia súc, gãy lưng của một con gấu lười hay dễ dàng lấy mạng của một con sói lửa.

Hổ có vị trí chủ đạo trong Võ thuật cổ truyền, có nhiều bài quyền về hổ. Các hệ phái về Hổ quyền là tượng hình quyền trong Võ thuật cổ truyền. Hổ quyền mô phỏng động tác, tư thế tấn công, phòng thủ của loài hổ trong đời sống rừng xanh hoang dã và chú trọng vào luyện gân cốt, chỉ lực cùng sự vững chãi, nhanh nhẹn. Động tác tấn công của cọp là động tác ép tới giống như đang bị xô bởi một cỗ xe. Sức cọp là một loại ngoại lực cương mãnh hung bạo. Từ thế kỷ thứ II của Công Nguyên ở Trung Quốc đã xuất hiện bài ngũ cầm hý của Hoa Đà trong đó có mô phỏng động tác của loài hổ, và sau đó đến Hình ý quyền của phái Thiếu Lâm, Ngũ hình quyền, Thập Hình quyền, Hổ hình quyền của Hồng Hy Quan, Hổ hạc song hình quyền, Tượng hình quyền, Thập nhị hình quyền của Hình ý quyền (võ Thiếu Lâm), Bạch Hổ Quyền của Lâm Đạo Thai chuyên đánh vào tử huyệt, bắt nguồn từ việc quan sát trận chiến giữa hổ trắng và khỉ đột, Trung Ngoại Chu Gia của Trung Quốc có các chiêu và , của Bạch Mi quyền, Nam quyền, Phách quải quyền, Hắc hổ quyền đạo tuyệt kỹ hổ trảo Võ lâm vườn trầu, Hóc Môn. Người làng võ thường xếp hổ quyền vào nhóm ngạnh công bởi tính chất cương mãnh của nó. Phái Thiếu Lâm có khẩu quyết Hổ quyền luyện cố, nghĩa là võ hổ lấy việc luyện tập xương cốt làm nền tảng.

Trong Ngũ hình quyền của Trung Quốc thì hổ ở vị trí thứ hai, sau rồng gồm , điều đáng lưu ý khi con vật này được nhắc đền đầu tiên trong hệ thống ngũ hình quyền cũng như hình ý quyền nói chung, nó cũng là con vật được nhắc đến nhiều nhất trong các bài mô phỏng về động tác của thú, trong hình ý quyền thì hổ thuộc mạng mộc và tiêu biểu cho mùa xuân. Ở Việt Nam có bài tả về năm con hổ gồm Ngũ hổ là Hắc hổ, Thanh hổ, Xích hổ, Hoàng hổ, Bạch hổ. Màu sắc và phương vị trấn giữ của Ngũ hổ cũng theo ngũ hành mà sắp đặt.

  • tướng quân màu đen, trấn nhậm ở phương Bắc, thuộc Thuỷ.
  • tướng quân màu xanh, trấn nhậm ở phương Đông, thuộc Mộc.
  • tướng quân màu đỏ, trấn nhậm ở phương Nam, thuộc Hoả.
  • tướng quân màu vàng, trấn nhậm ở Trung ương tứ quý, thuộc Thổ.
  • tướng quân màu trắng, trấn nhậm ở phương Tây, thuộc Kim.

Lời thiệu trong bài quyền Hùng kê quyền cũng có nhắc đến hình tượng con hổ trắng và cây thương. , dịch nghĩa:

Có rất nhiều chiêu thức chiến đấu tượng hình đặc thù mang tên loài hổ để diễn tả các thế đánh Võ thuật cổ truyền thường gặp ở các bài quyền truyền thống: , , , , , , , , , , , , , …, , , ngoài ra còn có các tuyệt chiêu như , , , , ngoài ra còn có các thế đánh bằng trảo thủ trong Hổ hình quyền như: , , đặc biệt là ; . Trong Bạch Hổ võ phái tương truyền do Nguyễn Hữu Cảnh sáng lập là môn quyền cước chiến đấu, chú trọng đến kỹ thuật cận chiến, mọi đòn tấn công đều nhắm vào chỗ hiểm trên thân thể đối phương. Đặc biệt, trong kỹ thuật thủ pháp, môn phái này sử dụng khá nhiều đòn tay mô phỏng bàn tay hổ và được gọi là hổ trảo.

Hình tượng của hổ với sức mạnh của mãnh chúa rừng xanh đã đi vào võ cổ truyền Việt Nam như một nét đẹp của văn hóa Việt và tinh thần thượng võ. Trong võ cổ truyền Việt Nam, võ hổ xuất hiện khá nhiều như Mãnh hổ xuất sơn, Hắc hổ xuyên tâm, Long hổ quyền của hệ phái Nam Hồng Sơn, Phục hổ công, Mãnh hổ quyền của Thăng Long võ đạo, Hồng hổ quyền của Tây Sơn Bình Định… Võ Bình Định- Tây Sơn nửa sau thế kỷ XVIII, Với phái võ An Thái – Bình Định góp phần hình thành hệ thống quyền thuật của môn phái khá chặt chẽ, được xây dựng dựa trên 4 bộ chính: Hổ quyền, Long quyền, Hầu quyền và Xà quyền. Trong đó, Hổ quyền và Long quyền thuộc Ngạnh công, được coi là nền tảng Miên công chỉ được truyền thụ khi đã luyện qua Hổ quyền và Long quyền… Cũng ở vùng Bình Định trong môn phái An Thái có , tức là ba bước chân cọp chứ không phải là con cọp có ba chân, bộ quyền này thuộc Hổ quyền có các bài quyền như Thần Đồng, Ngọc Trản, Lão Mai, Lão Hổ… Ngoài ra, các võ sư ở Việt Nam còn nghiên cứu từ các loài vật trong tự nhiên, sáng tạo thành những bài hình tượng quyền như Ngũ cầm quyền (long, hổ, báo, xà, hạc), Mãnh hổ xuất sơn…muốn thành đạt môn Hổ quyền phải tập luyện đều đặn từ 1 đến 3 năm. Hổ Quyền được ứng với một con vật trong Đồ hình Bát Quái tám con vật, gồm: Hổ, hạc, nhạn, gà (kê), chim phụng, rắn, long, khỉ. Mỗi con vật ứng với một quẻ, được thiết lập ở một hướng khác nhau, trong đó ở quẻ con hổ (trong võ học gọi là -tức là bộ ngựa con cọp, ư thế này như hổ chuẩn bị tấn công với các ngón tay cong đều, hơi hở ra như móng hổ đang vồ mồi – trong võ học gọi là Hổ trảo)…

Bài quyền Lão hổ thượng sơn là một trong 10 bài võ được liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam đưa vào chương trình huấn luyện bắt buộc và biểu diễn trong hệ thống thi đấu quốc gia. Lấy chúa sơn lâm làm hình tượng, bài quyền là sự thể hiện sức mạnh và thần thái uy nghi của loài hổ. Các động tác dứt khoát, xoay chuyển biến hóa, dũng mãnh mô phỏng động tác, tư thế tấn công, phòng thủ của loài hổ trong rừng đời sống hoang dã rừng xanh. Ngoài ra còn có thế võ Tam bộ hổ hay Quyền 3 chân hổ là tuyệt kỹ công phu có từ gần 200 năm trước, xuất phát từ đất võ Bình Định được khai sinh tại khu vực núi Bà thuộc huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định xuất phát từ đụng độ với loài cọp. Đây là bài quyền thể hiện oai lực của con hổ ba chân đang săn mồi. Không chỉ di chuyển bước chân, luyện tấn pháp, người tập phải luyện bộ tay (luyện hổ trảo) vì vũ khí của hổ là vuốt. Chụp được mồi, xé mồi, cắn mồi được cũng chính là vuốt.
để phản xạ nhanh bắt đòn đối phương thể hiện sức mạnh của loài hổ đồng thời người luyện phải nắm được cái thần thái của con hổ và biến mình thành mãnh hổ với đủ mọi vũ khí của con cọp

Trong môn võ Karate, hổ cũng được coi như là một biểu tượng của sức mạnh và lòng can đảm, và là cảm hứng cho Võ sư Gichin Funakoshi sáng lập ra phong cách Shotokan của hệ phái Shotokai, đến nay, hệ phái võ Không Thủ Đạo (Karate) Shotokan (松濤館 Shōtōkan?) cũng dùng hình ảnh con hổ làm biểu trưng cho hệ phái của mình. Biểu trưng của phái võ Tân Khánh Bà Trà là hình ảnh một võ sư tung cú đá vào đầu con hổ lớn trong tư thế đẹp. Đây chính là bắt nguồn từ những trận đả hổ của các bậc tiền bối, môn phái Bạch Hổ Lâm ở Quảng Bình cũng có biểu tượng hổ, lò võ Bạch Hổ của võ sư Võ Thiện Đường ở Trung Nhứt, Trà Bay, Cần Thơ lấy linh vật là con hổ trắng vì Bạch Hổ là tướng tinh, biểu tượng sức mạnh của Tiết Nhơn Quý trong truyện Trung Quốc. Cọp là chúa tể sơn lâm, cọp trắng lại là chúa tể của chúa tể, nó còn gắn liền với truyền thuyết Bạch hổ ở Cần Thơ.

Chiêm tinh, nhân tướng

Bài chi tiết: Dần và Bạch hổ

Trong hệ thống vật biểu theo Ngũ hành, con hổ trấn giữ phương Tây và được dân gian tôn là linh vật. Bộ vật biểu cho 5 phương là Thanh Long (Rồng xanh án ngữ phương Đông), Bạch Hổ (Hổ trắng coi trấn phương Tây), Chu Tước (Chim sẻ đỏ quy tụ phương Nam), Huyền Vũ (Rùa đen cai quản phương Bắc) và Phượng Hoàng. Theo ý nghĩa này, Hổ trắng tuy là loài động vật có thật nhưng lại được xem là vật biểu mang tính ước lệ. và cũng là con vật năm trong nhóm tứ tượng hay tứ thánh thú gồm rồng, hổ, rùa, chim sẻ. Hổ còn là con vật linh thiêng nằm trong bộ Tứ Linh là Long, Phượng, Quy, Hổ hoặc (gồm: , , , , , , , . Trong phong thuỷ thường dùng hai phạm trù là – để chỉ hai cục thế bên cạnh huyệt, thường dùng để xem về địa thế (địa thế hay là nơi ).

Trong lịch Can chi thì hổ đứng hàng thứ ba của 12 con giáp, mang tên Dần. Về mặt chiết tự, chữ Dần trong chữ tượng hình Trung Hoa có hình dáng con mãnh hổ đang xông tới uy phong lẫm liệt, đôi mắt trừng trừng. Hổ còn nhập hệ lịch can chi 12 con vật, là biểu tượng chi Dần với những ý nghĩa triết lý – nhân văn sâu sắc. Tháng con hổ là tháng Giêng, đầu xuân, đầu năm mới, tháng mà 3 khí dương (của trời) cân bằng với 3 khí âm (của đất), do đó cũng là tháng mở đầu của con người (nhân sinh ư dần), vì con người là sự cân bằng giữa trời – đất và con người khoẻ mạnh là sự cân bằng âm – dương, nóng – lạnh từ nội tạng… Trong 12 con giáp thuộc cung Hoàng đạo thì hổ là con vật đứng thứ hàng thứ ba sau Chuột (Tý), Trâu (Sửu). Hổ đứng ở phương Đông, cung Dần, góc vuông thứ nhất của môn toán học tử vi, gắn với Nam Á. Tính cách con giáp của hổ là tính cách của một năm mạnh mẽ nhất về sức khỏe, sung mãn về làm ăn kinh tế, mở mang về học vấn và tính vượng khí của trục Dần-Thân đầy sức chi định. Trong nhân tướng học, hổ là con vật linh thiêng và đầy uy quyền thường được thờ phụng, chính vì thế nó là biểu tượng cho quyền lực, cho công danh học hành và sự tăng tiến trong kinh doanh. Cũng có thể bổ trợ cho bản mệnh người tuổi Dần.

Những cô gái khoác áo da hổ

Theo Thuyết văn, chữ Dần biểu thị cho mùa xuân đương đến, dương khí đang lên. Tháng Giêng đầu năm gọi là tháng Dần, là tháng mở đầu cho con người . Năm Dần cầm tinh con hổ, quan điểm người xưa thường coi đó là năm tốt, sanh được con trai thì càng quý bởi hổ tượng trưng cho thế và lực, cho sự oai phong lẫm liệt và sức mạnh phi thường và những người cầm tinh con hổ cũng được coi là có cá tính, mạnh mẽ, người tuổi hổ rất nhạy cảm, dễ xúc động, có nhiều năng lực, còn tình yêu đối với người tuổi hổ thật nồng nàn và mãnh liệt Theo quan niệm của tử vi phương Đông, người con trai sinh tuổi Hổ (Dần) thường có tư chất thủ lĩnh, tướng mạo oai phong, tính cách nóng nảy, quyết đoán, can trường, kiêu hãnh, đầy đam mê, nhân hậu. Riêng đối với những người con gái sinh năm Dần thường được coi là cao số và hay lận đận trong đường tình duyên, gia đình và người ta hay xây dựng hình tượng những cô gái này là nóng tính, đanh đá, kiêu căng vì mang tuổi chúa sơn lâm thì phải cần người hầu hạ đặc biệt con gái tuổi dần không hợp với người sinh tuổi Hợi vì quan niệm hổ sẽ vồ lợn trong lý thuyết tứ hành xung gồm dần-thân-tỵ-hợi.

Một số Danh nhân tuổi Hổ có những nhân vật xuất chúng, sự nghiệp lẫy lừng có thể kể đến là:

  • Nhà toán học Hi Lạp Euclide (Canh Dần, 330-257 tr. CN)
  • Vua Trần Thái Tông (Mậu Dần, 1218-1277)
  • Francois Reblais (Giáp Dần, 1494-1553)
  • Tướng quân Tokugawa Ieyasu (Nhâm Dần, 1542-1616)
  • Danh nhân Lý Thời Trân (Mậu Dần, 1578-1657)
  • Triết gia Hegel Goerg Wilhelm Friedric (Canh Dần, 1770-1831)
  • Nhà sử học Phan Huy Chú (Nhâm Dần, 1782-1840)
  • Nhà triết học Các Mác (Mậu Dần, 1818-1883)
  • Nhà văn Ivan Sergeevits Turgenev (Tuốc-Ghê-Nhép) (Mậu Dần, 1818-1883)
  • Tổng thống Tôn Trung Sơn (Bính Dần, 1866-1925)
  • Chủ tịch Hồ Chí Minh (Canh Dần, 1890-1969)
  • Tướng De Gaulle (Canh Dần, 1890-1970)
  • Boris Pasternak
  • Agatha Christie, nữ nhà văn Anh
  • Dwight David Eisenhower, tổng thống Mỹ

Khi giành được giang san, nhà Nguyễn lựa chọn việc đặt kinh đô. Và nhà Nguyễn đã chọn Kinh thành Huế với địa thế – Thanh long, Bạch hổ là hai trong bốn thánh thú hợp thành tứ tượng hay tứ thánh thú. Bạch Hổ còn được xem là linh vật thiêng liêng thuộc về hành Kim ở phía Tây, tương ứng với mùa thu. Từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hóa, đã có tám lần các chúa Nguyễn thiên di thủ phủ rồi cuối cùng trở về lại Phú Xuân. Năm 1805, Kinh thành Huế được khởi công xây dựng, nhà Nguyễn đã chọn xây kinh thành về hướng Đông Nam (thuộc phương Nam) hai bên có cồn Hến và cồn Dã Viên tạo thế Tả Thanh long, Hữu Bạch hổ chầu về trọng địa Kinh thành. Đó là thế rồng chầu hổ phục bảo vệ cho vương triều. Hữu Bạch hổ (cọp trắng ở phía phải) là chỉ cồn Dã Viên, nằm ở phía tây Kinh thành Huế. Ngoài ra, Cồn Dã Viên còn gắn với một dấu ấn khác: cầu Bạch Hổ. Tương truyền, khi cầu Bạch Hổ (lúc đó chưa được đặt tên) đang được xây cất, có một con hổ trắng đến ngồi ở giữa cầu khiến mọi người đều hoảng hốt bỏ chạy. Cũng chính vì thế mà cây cầu này được gọi là cầu Bạch Hổ trong tư tưởng phong thuỷ của các nhà địa lý thì nó được xem như Bạch Hổ chầu bên hữu của Kinh thành.

Trong Văn hóa Trung Quốc

  • : Hổ trong văn hóa Trung Hoa

Cùng với văn hóa thế giới, văn hóa Á Đông, trong văn hóa Trung Quốc, hổ là biểu tượng của uy quyền và thanh thế, những sản phẩm xa xỉ làm từ da hổ hay rượu ngâm xương hổ là món đồ hiếm và được ưa chuộng., nó còn biểu tượng của sự dũng mãnh và võ công. Các vị tướng có sức mạnh, thiện chiến được tôn xưng danh hiệu là hổ tướng, nhiều tước hiệu của các vị tướng quân thường gắn liền với tên gọi của loài hổ như: Hổ bôn trung lang tướng, hổ uy (oai) tướng quân…. các vật dụng quân sự cũng ít nhiều gắn tên loài hổ như hổ trướng (dùng để chỉ về doanh trại của quân đội, hổ phù: vật hiệu lệnh của quân đội, Hình mặt hổ được dùng phổ biến để trang trí giáp, trụ của các quan văn, võ Hổ còn là một trong những con vật biểu tượng cho võ thuật Trung Hoa mà tiêu biểu là các võ phái Thiếu lâm Hình ý quyền, hệ phái Ngũ hình quyền, môn võ Hổ hình quyền sau này được phát triển và hoàn thiện bởi phái Hồng gia quyền.

Hình tượng con hổ trong văn hóa
Biểu tượng của một con hổ Trung Hoa

Con hổ cũng là một con vật đặc biệt trong văn hóa Trung Quốc. Người Trung Quốc ngưỡng mộ con hổ vì nhiều lý do. Trong cuốn sách viết về các nghi lễ có từ khoảng 2.000 năm trước có viết , trong cổ sử đề cao sức mạnh và dũng mãnh của hổ, nó có thể bắt lợn lòi dễ như mèo bắt chuột. Dũng mãnh, có ích và rất đẹp – những con hổ gần như đã rất hoàn hảo. Trong thời nhà Hán việc tôn thờ loài hổ trở thành một quan niệm ổn định về “Tứ Linh thú” thể hiện trên gương và các đồ đồng lễ nghi khác: Rồng, Hổ, Quy, Tước (mà sau này quen gọi là Long Ly Quy Phụng). Hổ (bạch hổ) đại diện cho quyền lực và thần linh ở phía Tây Trong văn hóa Trung Hoa, Bạch hổ (tiếng Trung: 白虎; bính âm: ) là một trong tứ linh của Trung Hoa và được biết đến với tên gọi (西方白虎) đại diện cho hướng Tây và mùa Thu Con hổ cũng là biểu tượng thứ 3 trong cung hoàng đạo bao gồm 12 con vật.

Trong khoa địa lý cũng như trong thuật luyện đan Trung Quốc, hổ đối lập với rồng (Thanh long/ Bạch hổ). Năm con hổ (năm Dần) được cọi là biểu tượng của sức mạnh che chở, là những kẻ canh giữ bốn phương trời và tâm điểm, trong sử sách và trong các truyền thuyết Trung Hoa, người ta nhiều lần gọi là ngũ hổ những toán chiến binh dũng cảm bảo vệ vương quốc. Hổ trắng xuất hiện là một dấu hiệu của đức độ nhà vua. Hổ đặc biệt là một động vật của phương Bắc, của đông chí, ở đấy và vào thời điểm ấy triệt tiêu các ảnh hưởng độc hại. Nếu đôi khi nó là vật cưỡi của một tiên ông, thì đó là do bản thân nó vốn sống lâu. Ở Trung Quốc cũng có điển tích: chỉ về sức mạnh của dư luận xã hội tạo thành một áp lực ghê gớm

Đặc biệt, Hình tượng con hổ trong truyền thống văn hóa Trung Quốc chiếm một vị trí quan trọng, nó chỉ đứng sau con rồng. Trong Chu dịchCàn quái văn ghi chép rằng . Rồng bay trên trời, hổ đi dưới đất, rồng hổ kết hợp thành biểu tượng của sự cát tường thịnh vượng và quyền uy, là nét đặc sắc của văn hóa phong tục dân tộc mang sức sống mãnh liệt. Từ xưa con người hay dùng Long đằng hổ dược hoặc Sinh long hoạt hổ để thể hiện tinh thần và khí thế hào hùng của dân tộc Trung Hoa. Văn hoá Long Hổ đã thấm sâu vào các mặt chính trị, quân sự, y học, nghệ thuật của Trung Quốc. Cũng theo Chu dịch thì Long Hổ là càn khôn, thiên địa, âm dương, nam nữ. Đời Hán có bài Thái Sơn kính minh viết: . Trong tranh khắc đá đời Hán ở Sơn Đông có khắc: tức rồng hổ ở đây lại trở thành thần tài…

Trong văn hóa Hàn Quốc

  • Xem bài chính: Hổ trong văn hóa Hàn Quốc

Hình tượng con hổ trong văn hóa

Hình tượng con hổ trong văn hóaHổ Mãn Châu là biểu tượng quốc gia của Hàn Quốc

Tên tiếng Triều Tiên

Hangul
호랑이, 범

Hanja
[, 虎

Romaja quốc ngữ
horang-i, beom, ho

McCune–Reischauer
horang-i, pŏm, ho

Logo của LDBĐ Hàn Quốc

Hình tượng con hổ ảnh hưởng rất sâu đậm trong văn hóa Hàn Quốc, nó mang hơi hướng thần thoại vẫn tồn tại trong cuộc sống con người Hàn Quốc cho đến ngày nay với tư cách là Thần giám hộ của đất nước này. Con hổ tượng trưng cho lòng dũng cảm và sức mạnh. Tuy là loài dũng mãnh, hung tợn trong thế giới động vật hoang dã nhưng trong quan niệm dân gian Hàn Quốc, hổ vẫn là loài vật thân thiết với con người. Hình tượng hổ được đưa vào đời sống hàng ngày và tôn là linh vật bảo vệ cho loài người.

Người Hàn Quốc đặc biệt thần phục loài hổ trắng, theo họ thì sau khi được tôi luyện trong vũ trụ, con hổ đã được trút bỏ lốt cũ để trở thành hổ trắng, một giống vật thiêng, không bao giờ hại người. Hổ trắng chỉ hung tợn với kẻ cầm quyền gây tội ác. Đối với người Hàn Quốc thì năm Bạch Hổ, màu trắng của hổ được kỳ vọng là tín hiệu của may mắn. Người dân tin rằng khi cầm theo bùa bạch hổ thì được bảo vệ khỏi mọi rủi ro, và dân gian cho rằng hổ là loài vật át được khí vận xấu nên họ hay mặc áo in hình hổ để có được sự khởi đầu tốt đẹp cho năm

Những cứ liệu lịch sử lâu đời nhất liên quan đến hổ là thần thoại về Đàn Quân (Dangun), người sáng lập Vương quốc Joseon cổ, theo truyện đó thì cả gấu và hổ đều muốn trở thành người. Gấu, sau khi nằm 100 ngày trong hang, chỉ ăn cải cúc và tỏi như lời răn dạy, đã được biến thành một người đàn bà. Còn hổ, vì không kham nổi thử thách, đã vùng chạy ra ngoài, bỏ dở ước nguyện thành người của mình. Sử sách ghi chép rằng, vị vua Chân Huyên gắn với một truyền thuyết về mẹ của ông đến từ Gwangju và hạ sinh người con trai đầu tiên của bà sau khi tiếp xúc thân thể với một con giun/sâu ngụy trang dưới dạng một người đàn ông, và rằng Chân Huyên lớn lên với dòng sữa của một con hổ. Trong cuốn Thực lục vương triều Joseon còn lưu tới 635 điển tích về hổ. Choi Nam-seon đã viết về hổ và đã miêu tả con hổ khi khắc họa địa thế hình hổ của bán đảo Hàn Quốc lên tranh vẽ rằng Rồng Trung Hoa, voi Ấn Độ, sư tử Ai Cập, chó sói La Mã và khẳng định linh vật của dân tộc Hàn là con hổ.

Người Hàn Quốc xưa thêu hình hạc lên lễ phục quan văn nhưng lại thêu hình hổ lên ngực và lưng áo quan võ, da của hổ luôn được treo ở các doanh trại võ binh, có nhiều bức tranh vẽ tư thế quan võ ngự trên thảm da hổ, ngoài ra hổ xuất hiện rất nhiều trong các tranh vẽ ở Hàn Quốc, hình ảnh con hổ trong thần thoại hay nghệ thuật dân gian được đưa lên các vật dụng hàng ngày. Móng hổ hay nhiều thứ khác được sử dụng rất nhiều trong cuộc sống hàng ngày. Những vật phẩm được tạo thành dựa trên hình tượng con hổ cũng rất đa dạng trong cuộc sống thường nhật ở Hàn Quốc như Hogeon một loại mũ trẻ em hình đầu hổ, Norigae, dây trang trí trên váy áo Hanbok truyền thống, bùa hộ mệnh in hình hổ, gối có hoa văn hình hổ.

Xem thêm :  1500 hình xăm mini nhỏ, đẹp, dễ thương,ý nghĩa cho nam, nữ

Trong văn hóa Việt Nam

Hình tượng con hổ trong văn hóa
Hổ phân bố ở Việt Nam là Hổ Đông Dương, hiện loài này đang thuộc nhóm nguy cấp

Với đặc thù là miền nhiệt đới ẩm, có nhiều rừng rậm, đồi núi, Việt Nam là nơi có môi trường phù hợp cho sự phát triển của loài hổ (phân loài hổ Đông Dương) do đó hổ là động vật xuất hiện nhiều trong tự nhiên tại đây, Hình ảnh con hổ đi vào nền văn hoá dân gian Việt Nam một cách phong phú, đa dạng và đặc sắc. Ít nơi nào con hổ mang nhiều tên gọi như ở Việt Nam. Điều đó chứng tỏ vị trí quan trọng của nó trong đời sống văn hóa của người dân. Cùng với thời gian, sự phát triển của đời sống và tôn giáo, con hổ đã trở thành một linh thú mang rất nhiều nét tính cách của xã hội Việt Nam. Con hổ là một hình tượng đặc biệt trong cuộc sống vật chất và tinh thần của người Việt Nam từ xưa cho đến nay, đối với văn hóa Việt Nam, hổ là biểu tượng của sự hùng cường, thể hiện sức mạnh vô song, Do sức mạnh và sự nhanh nhẹn của chúng, người ta thường phong cho hổ là chúa sơn lâm., không những thế, trong đời sống văn hóa ở Việt Nam, hổ được quan tâm đặc biệt, loài mãnh thú, chúa tể rừng xanh này được mổ xẻ kỹ lưỡng, từ chuyện xây nhà, lấy vợ, sinh con năm dần, đến tác dụng của cao hổ cốt, thậm chí, đến pín hổ cũng được mổ xẻ tỉ mỉ. Xiếc hổ Việt Nam cũng xuất hiện từ khá sớm với nhiều nghệ sĩ tài năng như nhà luyện hổ Tạ Duy Hiển.

Hình tượng con hổ đã xuất hiện từ lâu trong văn hóa của cư dân Việt. Những chiếc trống đồng Đông Sơn có cách đây khoảng 2500 đến 3000 năm tuổi, nhưng trên mặt trống đã xuất hiện hình con hổ, điều này cho thấy con hổ đã gắn bó hàng nghìn đời nay với người dân Việt Nam với sự trân trọng và sau này được nhân nhân thờ cúng trong các miếu, đền. Con hổ còn xuất hiện rất nhiều trong các tác phẩm mỹ thuật Việt Nam và những bức tranh thờ Hàng Trống đã trở thành mẫu mực trong tranh Việt Nam. Ngoài ra, hình ảnh con hổ đi vào nền văn hoá dân gian Việt Nam với những biểu hiện, những hình thức phong phú và đặc sắc. Theo thống kê sơ bộ, người Việt Nam có hơn 1.200 câu ngạn ngữ, phương ngữ, thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca liên quan tới hổ. Hổ còn là đề tài trung tâm của nhiều câu chuyện cổ tích, ngụ ngôn, huyền thoại, giai thoại. Hổ còn gợi nguồn cảm hứng mạnh cho nhiều thi sĩ để họ viết nên những bài thơ độc đáo như bài thơ kể về lời con hổ trong vườn bách thú của Thế Lữ. năm 1932). Hổ cũng là đối tượng nghệ thuật hấp dẫn thể hiện trên các vật dụng sinh hoạt thường ngày, nơi thờ tự, nhà cửa. Câu chuyện về Hùm thiêng Yên Thế đề về lòng yêu nước của Hoàng Hoa Thám. Truyện Trí khôn của ta đây nhắc về câu chuyện trí tuệ chiến thắng sức mạnh. Tục ngữ nói về tình cha mẹ dành cho con và mong muốn con cháu giỏi giang, làm vinh hiển gia đình, đất nước như câu: .

Hình tượng con hổ trong văn hóa
Hổ đánh nhau với cá sấu, gợi lại câu: Dưới sông sấu lội trên rừng cọp đua

Trên mặt trống Kur, hổ mình vằn đang đuổi theo một con hươu, trong khi chính nó là mục tiêu của một người cầm cung đang ngắm bắn. Trên tang chiếc trống này một con hổ mình vằn khác cũng đang trong tư thế đuổi theo một con hươu sừng. Trên phần tang của trống Sangeang có cảnh một người tay phải cầm khiên, tay trái cầm kiếm dạng tước (đốc tay cầm hình khuyên tròn) đang trong tư thế đánh nhau với một con hổ chồm lên đứng bằng hai chân sau. Một con chó đứng sau hình người cũng đang chồm lên sủa hỗ trợ cho chủ nhân đánh hổ. Kiểu cách những con hổ như vậy còn xuất hiện ở trên thân một chiếc bình trang trí hoa văn Đông Sơn hiện được trưng bày tại phần Việt Nam của Bảo tàng Guimet (Pháp). Tại phần vai rộng của chiếc bình này có một băng hoa văn thể hiện cảnh những con hổ nhởn nhơ bên cạnh đàn hươu nai. Một số trống đồng có vẽ chi tiết một con hổ quay ngược đầu với hướng truyền thống của đàn chim (ngược chiều kim đồng hồ) phản ánh sự phá vỡ quy chuẩn trang trí Đông Sơn. Hình hổ khá rõ ràng, một con quay đầu lại, mắt hổ được thể hiện bằng hình tròn có chấm ở giữa, trên thân có các chấm nhỏ tạo thành đường vằn ngang thân, bên trong vành chim và hổ này là một vành trang trí cảnh lễ hội mùa lúa. Những chiếc trống có hình hổ kể trên đều thuộc loại trống Đông Sơn muộn (từ khoảng thế kỷ II trước Công nguyên trở về sau).

Ngoài những hình hổ trang trí trên mặt phẳng, người Đông Sơn còn thể hiện hình tượng hổ thông qua việc tạo ra những khối tượng kim loại. Chiếc thạp đồng Đông Sơn tại khu mộ Vạn Thắng, trên nắp thạp hiển hiện bốn khối tượng hổ cắp mồi rất sinh động. Ở chuôi một thanh kiếm đồng Đông Sơn được khai quật ở vùng miền núi Nghệ An – Thanh Hóa do một người Pháp là Gallery Hioco sưu tầm cũng có một bức tượng hổ trong tư thế đang rón rén lại gần con mồi. Tại một địa điểm khảo cổ khác thuộc tỉnh Bắc Ninh có tên là Lãng Ngâm (huyện Gia Bình), các nhà khảo cổ học cũng đã phát hiện nhiều tấm đồng trổ thủng mang hình hươu và hổ. Sự xuất hiện hình ảnh loài hổ trong nghệ thuật Đông Sơn có liên quan đến quan niệm tôn thờ sức mạnh và sự nguy hiểm của loài vật này. Sự tôn thờ này tồn tại khá đậm nét trong số các bộ lạc và tiểu quốc người Ba Thục và người Việt ở vùng đất Dạ Lang, Tây Âu, Âu Lạc.

Thời kỳ Đại Việt

Con hổ là một đối tượng đặc biệt trong cuộc sống vật chất và tinh thần của người Việt Nam xưa nay cho nên các triều đại phong kiến coi hổ, rồng là những biểu trưng vương quyền, vì vậy hình ảnh hổ xuất hiện phổ biến và trang trọng nơi cung cấm. Từ thời nhà Đinh (968 – 979), hầu hết các vua chúa đều nuôi hổ để giải trí và làm đao phủ trừng phạt phạm nhân. Từ thời nhà Trần (1226 – 1400), những cuộc đấu giữa hổ với voi gọi là hổ quyền được tổ chức rầm rộ, đến thời Nguyễn được nâng lên thành lễ hội và tận năm 1904 mới chấm dứt.

Hình tượng con hổ trong văn hóa
Tượng gốm hổ thời nhà Nguyễn

Vào thời kỳ nhà Nguyễn, hình ảnh con hổ cũng trở nên phổ biến gắn với sự hình thành và kiện toàn nhà nước phong kiến chuyên chế quân chủ tập quyền ở Việt Nam, Truyền thuyết kể rằng, lúc Nguyễn Ánh bị nhà Tây Sơn truy lùng, gặp hoàn cảnh ngặt nghèo, hết cả lương thực, may nhờ có thịt thú rừng do hổ tha tới tiếp tế mỗi ngày mà sống. Về sau, khi lên ngôi vua, ông đã cho lập miếu thờ tại vùng Mô Xoài thuộc tỉnh Bà Rịa để tạ ơn. Dân gian thường gọi là miếu Ông Hổ. Tục truyền, vua còn ban lệnh cấm giết hổ. Nếu kẻ nào lỡ tay giết chết hổ thì bị phạt 30 trượng. Còn nếu bắt sống thì được thưởng 30 quan tiền. Cũng vì lệ này mà hổ còn được gọi là Ông Ba Mươi.

Nhà Nguyễn đã cho xây dựng đấu trường bên bờ sông Hương gọi là Hổ Quyền để cho voi và hổ đấu nhau trước sự chứng kiến của vua quan và dân chúng kinh thành. Hổ quyền là tên gọi một đấu trường là chuồng nuôi hổ Hổ Quyền là một di sản văn hóa độc đáo, một đấu trường không hề có ở bất cứ nơi đâu trên thế giới: đấu trường của voi và hổ. Nó là một phần quan trọng của di tích văn hóa lịch sử ở Cố đô Huế. Dưới triều Nguyễn, chính nơi đây đã diễn ra những cuộc tử chiến vô cùng ác liệt giữa voi và hổ nhằm tế thần trong ngày hội và phục vụ nhu cầu giải trí, tiêu khiển cho vua, quan và dân chúng. Trong cuộc quyết đấu đầu tiên giữa voi và hổ năm 1750 tại cồn Dã Viên trên sông Hương, 40 con voi đã giết chết 18 con hổ trước sự chứng kiến của chúa Nguyễn Phúc Khoát và triều thần ngồi xem trên 12 chiếc thuyền. Đây là trận đấu kinh hoàng, khủng khiếp và đẫm máu nhất.

Những trận tử chiến giữa voi và hổ thường mỗi năm tổ chức một lần. Những trận đấu không chỉ để vui xuân mà cốt huấn luyện cho voi tập dượt thêm can đảm khi lâm trận và ngoài ra còn nhằm để tế thần trong ngày hội và phục vụ nhu cầu giải trí tiêu khiển cho nhà vua, hoàng tộc và quan lại. Trước mỗi trận đấu, hổ đều bị cắt nanh, bẻ vuốt, và buộc chặt vào cột cho nên voi luôn giết chết và chà nát hổ, tuy nhiên tai nạn đôi khi vẫn xảy ra vì hổ chiến đấu vô cùng dũng mãnh. Sau này, để bảo đảm an toàn, năm Canh Dần 1830, vua Minh Mạng đã hạ chiếu cho xây dựng một đấu trường lớn gần đồi Long Thọ phía tây kinh thành Huế lấy tên là Hổ quyền.

Những mô tả của sử sách và ghi chép của người Phương Tây đã tái hiện cảnh chiến đấu đẫm máu giữa voi và hổ, một trận chiến có tính bất công dành cho loài hổ, tuy nhiên qua những ghi chép này cũng có thể thấy sự hung hãn và nguy hiểm của con hổ trong điều kiện hoàn toàn bất lợi. Những chi chép mô tả về trình tự trận đấu khi ba tiếng trống lệnh đánh lên thì cửa chuồng hổ mở toang, một con hổ vằn loang lổ nhảy vọt ra, ngoảnh nhìn trừng trừng bốn phía rồi gầm lên vang dội. Bên kia, voi ngần ngại chần chừ chưa xông ra. Quân tượng phải lấy búa đánh thúc voi xông trận. Thấy voi, hổ hung hăng sấn lại, tung mình bấu vào cổ voi mà cấu xé. Voi chạy quanh lựa thế, lấy vòi lôi hổ xuống, định đưa chân dẫm lên mình cọp. Nhưng càng đấu, hổ nhanh nhẹn tránh khỏi. Hai bên hăng máu hăm hở vật lộn nhau mãi. Voi khỏe, hổ nhanh, hai bên không bên nào chịu kém. Đấu gần hai tiếng đồng hồ, có khi kéo dài đến trưa, đợi khi hổ yếu dần, voi lừa thế ép hổ vào tường, đưa vòi quật hổ rồi tung hổ lên cao, đưa ngà đón hổ. Hổ rơi xuống, voi lấy chân đá hổ, rồi cả thân mình voi nặng như núi Ngự Bình dẫm lên đè nát hổ. Dân chúng hò reo hoan hỉ, vì nghĩ voi là con vật có công với nước, đã hạ được hổ thì vỗ tay reo mừng.

Hổ Quyền, đấu trường diễn ra những trận đánh giữa hổ và voi

Theo Michel Chaigneau trong cuốn thì trước khi đấu bao giờ cũng dũa móng vuốt của hổ hoặc bọc chân hổ trong những túi da dày để tránh nguy hại đến voi và khán giả. Kết quả cuộc đấu voi – hổ bao giờ cũng ấn định theo ý người tổ chức đó phải là voi thắng hổ, voi được quyền ưu tiên, còn hổ thì ngược lại, bị tước đi vũ khí lợi hại. Khi vào cuộc đọ sức, voi đã được chăm sóc bồi dưỡng chu đáo, có quản tượng điều khiển, có vài người lính cầm vũ khí ngồi trên bảo vệ, hỗ trợ. Còn hổ đã bị nhốt lâu ngày, ăn uống kém, răng nanh bị bẻ, miệng bị khâu lại, móng bị cắt hết, chân bị đút vào túi da kín, cổ phải mang xích sắt buộc chặt vào cọc đấu trường. Dù vậy, sự việc không diễn ra dễ dàng thuận lợi cho voi do với sự hung hãn của mình, trong những trận chiến, khi bắt đầu, hổ gầm gào vang động, nhảy dựng lên, mắt trừng làm voi sợ hãi lùi. Quản tượng phải dùng búa đánh thúc voi tiến lại. Hổ hung hăng, lồng lộn xông về phía voi nhưng bị dây xích gìm giữ, khi voi đến gần, hổ bất ngờ tót lên đầu voi tấn công quản tượng và mắt, tai, cổ voi. Voi luống cuống hất hổ ngã nhào xuống đất, hổ nhanh chóng bật dậy, bám vào vòi voi, voi giũ vòi. Móng vuốt đã bị cắt, chân lại bị đút vào túi da nên được một lúc hổ bị tụt khỏi ngà voi rắn chắc và ngã xuống đất. Quản tượng điều khiển voi xông lại dùng chân và cặp ngà tấn công hổ. Cuộc chiến đấu giằng co kéo dài. Nếu hổ chưa chết mà con voi thứ nhất tháo chạy, thì con voi khác vào đấu tiếp với hổ cho đến khi hổ chết.

Nhưng nếu một con hổ khỏe mạnh mới bị bắt ở rừng về còn hung hăng thì dẫu có bẻ răng cưa móng vẫn còn nguy hiểm. Chính Michel Chaigneau đã chứng kiến một sự xảy ra dưới thời Gia Long. Có một trận đấu mà con hổ to lớn khác thường và khi cửa chuồng vừa mở, nó đã vọt như một mũi tên ra xa, kề sát bên voi, quật ngã ngay quản tượng. Voi như mất phương hướng vì không có người điều khiển, quay đầu chạy đạp lên người quản tượng, lúc này con voi thứ hai được đưa ra đấu trường, trên lưng voi có mấy binh sĩ cầm khí giới bảo vệ voi và quản tượng. Hổ vờn vài hiệp, thấy thế cố xé rào tìm lối thoát. Ba bốn khán giả bị hổ vồ cấu xé bị thương. Viên võ quan chỉ huy thấy vậy, ra lệnh phóng giáo giết hổ. Các vệ binh kéo xác con hổ bị thương vào giữa đấu trường cho ba bốn con voi lấy vòi tung lên như quả bóng rồi dẫm nát.

Ngoài việc đấu voi với hổ thì sử sách vẫn chép về việc đấu giữa người và hổ. Theo Lê Đình Chân trong cuốn thì khi Lê Văn Duyệt giữ chức tổng trấn thành Gia Định, một hôm, có sứ thần Xiêm La ngồi trên vọng đài xem các võ sĩ ta đấu với hổ. Dân chúng thành Gia Định chen chúc nô nức đến xem. Lệnh của Tả quân là chỉ được bắt sống. Nhưng võ sĩ Lê Văn Khôi gặp con hổ dữ đã bị nó chồm lên và tát ngay vào gáy. Ông này né mình đánh một côn sắt vào hổ, hổ ngã lăn giãy giụa một lúc rồi chết. Sứ thần Xiêm La tấm tắc khen ngợi. Nhưng Tả quân tức giận truyền cho quân sĩ bắt trói chịu tội. Lê Văn Khôi đến trước vọng đài cúi đầu xin tha tội vì đã giết lỡ hổ mà lệnh chỉ bắt sống. Võ sĩ xin đấu lại để chuộc tội, Tả quân đã bớt giận, truyền lính thả hổ khác cho Khôi bắt sống. Cuộc tỉ thí lần này thật hồi hộp, vờn nhau với hổ dữ, Khôi đã dùng miếng võ hiểm đá vào hàm dưới của hổ bất ngờ. Hổ đau quá, nằm lăn ra. Khôi lấy cuộn thừng giắt trong mình trói lại, trước khán đài xin chuộc tội. Sứ thần không dứt lời khen dũng sĩ đấu với hổ. Tả quân Lê Văn Duyệt trả lời rằng: .
Đến cuối đời Tự Đức, hổ quyền mới bãi bỏ nhưng trận đấu cuối cùng diễn ra ở nơi đây vào 1904 dưới thời vua Thành Thái.

Trong dân gian, vào thời này, trong dân gian cũng lập am, miếu thờ những con hổ hung dữ hại người hoặc những con hổ được truyền miệng là linh thiêng. Chẳng hạn như ở Miếu thờ Bạch Hổ ở đình Tân Lộc Đông ở Cần Thơ, con Bạch Hổ còn gắn liền với truyền thuyết về con cọp trắng thường lội qua sông đến ở cù lao Tân Lộc vào mùa nước nổi những năm 1780 – 1800. Hiện nay, miếu thờ Bạch Hổ vẫn còn ở chùa Ông Đạo Xuân, đình Tân Lộc Đông. Hằng năm, vào ngày vía Bà Chúa Xứ, người dân địa phương vẫn tổ chức cúng, dâng tờ cử xin Bạch Hổ bảo vệ dân làng. Cũng ở Cần Thơ có miếu cổ Long Tuyền thờ Thần Hổ từ năm 1844 và gắn liền với giai thoại địa phương về vùng này có một con cọp tu lâu năm, tánh linh như người, nó nghe được lời cầu khấn của một phụ nữ có thai, khi người phụ nữ này trở dạ thì nó đã bắt một bà mụ (người đỡ đẻ) về giúp cho phụ nữ này, sau đó nó bắt một con heo rừng (trên thân heo đầy vết móng cọp) để trả lễ. Hai phụ nữ này rằng đó là hổ thần bảo vệ dân làng và cùng dựng một ngôi miếu để thờ Thần Hổ. Ngoài ra, cư dân địa phương còn truyền tụng rất nhiều giai thoại khác liên quan đến việc Thần Hổ cứu người khi gặp hoạn nạn. Khi hổ chết, dân làng tiếc thương lấy thi thể làm tượng cốt đặt trong miếu thờ.

Ở đình Võ Lâm,tỉnh Kon Tum có thờ hình con bạch hổ được chạm khắc ở ngay bình phong vào chính điện thờ, bạch hổ ở đây không chỉ trừ tà mà còn ngăn ngừa được theo quan niệm của người bản địa, điều này xuất phát từ câu chuyện một con bạch hổ ba chân, nó vốn hung bạo ở rừng này, đã tấn công và ăn thịt tất cả các loài thú. Khi thiếu mồi, nó còn tấn công cả người. Một khi bạch hổ đã ăn thịt người thì nó càng hung tợn, càng dữ hơn bất cứ loài thú ác nào từ rừng đi vào chùa. Con bạch hổ này đi về chùa để nghe tụng kinh và từ khi về chùa Bác Ái nghe kinh Phật, xung quanh chùa thú dữ tránh đi hết, trong vùng không còn xảy ra các chuyện như người bị hổ vồ, hay thú dữ tấn công vật nuôi của làng Võ Lâm. Những bản làng người Mường ở miền tây Thanh Hóa, kéo dài từ vùng Thạch Thành lên đến Quan Hóa, Mường Lát, ngoài việc thờ cúng tổ tiên, thần rừng, thần núi, thì họ còn cúng Ông Hổ tượng trưng cho thần rừng, đặc biệt người dân còn lập miếu thờ một con hổ gọi là hung dữ, chuyên ăn thịt người, người dân còn đồn rằng, năm nào không cúng hổ thần, mùa màng sẽ thất bát, lúa trồng chẳng thành hạt, cây cối chẳng chịu trổ hoa.

Ở vùng Phú Yên còn có câu chuyện về hang hổ, gắn liền với câu chuyện thầy tu đả hổ, trước khi thầy tu này đến, hổ sống rất nhiều ở trong và xung quanh hang. Ngày ngày, dân sống dưới chân núi luôn khiếp sợ bởi tiếng gầm hú ghê rợn của hổ. Không ít người vì mải mê săn bắn thú rừng mà bỏ mạng dưới nanh vuốt của hổ dữ. Từ ấy, dân quanh vùng không ai dám bén mảng đến gần hang hổ. Mãi cho đến khi vị thầy tu xuất hiện và sống ở đó, người dân mới an tâm làm rẫy, săn thú. Theo lưu truyền, vị thầy tu đã làm cho bầy hổ trở nên thân thiện với người dân. Để nhớ ơn, khi ông qua đời, dân lập miếu thờ ông Tạ Từ ngay trong hang, nay đã không còn dấu vết. Khi vị thầy tu mất, thì hổ tái chiếm hang, những bầy hổ bỏ đi nơi xa cũng quay trở lại. Tại tỉnh tỉnh Quảng Ngãi, có câu chuyện bạch hổ và đôi rắn khổng lồ, theo đó một người già nằm mơ thấy một con hổ trắng đến bảo rằng Ta là bạch hổ coi ngó xứ này. Nay ta giao giấy tờ trông coi đình lại cho ông rồi từ nay trở đi vào núi tu hành, không coi đình và xứ này nữa. Từ đó dân làng cúng đầu heo không bị mất như ngày trước.

Thời hiện đại

Chiến tranh Đông Dương là một trận chiến giữa hổ và voi (Hồ Chí Minh)

Trong chiến tranh Việt Nam, con hổ đã là hình tượng để ví von cho quân đội nhân dân Việt Nam với cách đánh theo kiểu du kích, dựa vào núi rừng để tiêu hao sinh lực địch, đây chính là luận điểm trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự.

— Hồ Chí Minh

Ngày nay, hình ảnh con hổ đã trở thành biểu tượng cho sự khát vọng, mong muốn của người dân Việt Nam về một nền kinh tế hùng cường, có tầm ảnh hưởng và một xã hội thịnh vượng với hình tượng . Nhiều người Việt Nam, các nhà quản lý và nhiều chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước đều nhận định cùng mong muốn kinh tế Việt Nam sẽ chuyển biến trở thành một con hổ mới của châu Á hay một con hổ mới về giáo dục và đào tạo ở châu Á, nhiều người Việt Nam còn mong muốn Việt Nam sẽ là con hổ của thế giới trong 15 – 20 năm sau khi đổi mới và nhiều người khác mong rằng Việt Nam sẽ là con hổ châu Á

Bên cạnh đó, quan niệm thái quá của con người khiến hổ ở Việt Nam từ xưa đã bị săn bắt ráo riết chẳng kém gì ở những nơi khác trên thế giới, có những người chuyên nghề dọi dấu (tìm dấu vết hổ) của làng Tịnh Yên Đông Tây chuyên đi săn hổ, Săn hổ ở đây đã trở thành nghề cha truyền con nối. Thậm chí đến nay, ở vùng biên giới Quảng Trị – nơi mà người ta tàn sát hổ, coi hổ như kẻ thù và tổ chức săn bắt như ở Làng Thủy Ba. Do hổ thường xuyên thâm nhập vào các bản làng của con người bắt gia súc như trâu bò dê heo và ăn thịt người dân, đây được coi là trận chiến giữa người với mãnh thú mà còn là câu chuyện kể về sức mạnh của người dân Việt chống loài ác thú và chống ngoại xâm… chính quyền, triều đình phong kiến trước đó còn tặng thưởng cho những người săn hổ công với giá trị y học và kinh tế mà hổ đem lại như xương hổ để nấu cao hổ cốt, da hổ để trang trí, bộ móng vuốt, răng của hộ để đeo như những trang sức, pín hổ để tăng cường sinh dục, còn được dùng để trưng bày hoặc làm thành các sản phẩm lưu niệm, điều này dẫn đến những cuộc săn hổ, tàn sát loài hổ.

Ở Việt Nam có tập quán đi săn Hổ của người Sán Dìu, từ xa xưa, người Sán Dìu thường đi săn thú rừng nói chung và săn Hổ nói riêng lấy thịt để cải thiện bữa ăn trong gia đình. Họ thường tổ chức đi săn vào dịp nông nhàn, dịp đầu xuân mới hoặc khi phát hiện được con thú lớn là Hổ đi kiếm ăn. Dụng cụ đi săn Hổ chủ yếu là súng kíp, ngoài ra mỗi người đi săn có thêm 1-2 con chó săn đi cùng để hộ người quây đuổi thú. Nếu bắn được con Hổ to thì đem về nhà người trực tiếp bắn trúng để làm thịt, và cúng báo mời tổ tiên về ăn mừng để cầu xin tổ tiên phù hộ độ trì cho lần sau đi săn bắn được nhiều con Hổ và an toàn hơn. Sau khi cúng xong, họ lấy thịt Hổ ra để chia phần cho người trực tiếp bắn trúng được riêng một vai, đầu và bốn chân, số thịt còn lại chia đều cho những người đi săn, nếu ai có chó đi săn cùng thì được thêm nửa phần của người đi săn. Nếu bắn được Hổ nhỏ thì họ sẽ không chia phần, mà chỉ mang về nhà người trực tiếp bắn trúng, làm thịt, không phải cúng tổ tiên rồi liên hoan một bữa vui vẻ, chúc mừng nhau lần sau sẽ săn được một con Hổ to hơn. Món thịt Hổ cũng được người Sán Dìu coi là món đặc sản từ lâu đời, đặc biệt là kiểu chế biến món ăn thịt Hổ kiến đốt, người Sán Dìu biết dùng phổi của con Hổ để làm thuốc chữa bệnh ho lao rất hiệu nghiệm. Nếu săn được con Hổ và dịp dầu xuân thì người ta tin rằng năm ấy sẽ có sức khoẻ như Hổ, và luôn gặt hái được nhiều thành công, may mắn. Câu chuyện đầu xuân về tập quán đi săn Hổ và những món ăn đặc sản, những vị thuốc Nam được chế biến từ thịt Hổ là nét đẹp trong sinh hoạt văn hoá tinh thần của người Sán Dìu.

Hổ đang nuôi nhốt ở Việt Nam

Tại Việt Nam, hổ bị buôn bán trái phép chủ yếu sử dụng trong các loại sản phẩm được cho là thuốc như cao hổ cốt, rượu hổ cốt. Ngoài ra, thịt, da của chúng được dùng để trưng bày hoặc làm thành các sản phẩm lưu niệm, Việt Nam vẫn là điểm nóng buôn bán hổ từ các quốc gia Đông Nam Á sang Trung Quốc, đồng thời để phục vụ nhu cầu trong nước. Tại thị trường chợ đen giá 2,5 – 3 triệu đồng/kg hổ, còn giá cao hổ cốt lên tới 7 – 8 triệu đồng/lạng. Số lượng hổ giảm nhanh chóng, cả nước Việt Nam ước chừng 200 con hổ hoang dã và 95 con trong các vườn thú, trại chăn nuôi. Bình Dương đang có nhiều nhất với một số chủ doanh nghiệp tỉnh này nuôi tổng cộng tới 63 con hổ trong đó có 3 chủ nuôi gồm một người nuôi 23 con, hai người còn lại mỗi người nuôi 09 con, chính quyền từng định tịch thu toàn bộ số hổ đang nuôi nhốt bất hợp pháp, giao cho tổ chức có chức năng nuôi nhằm bảo tồn nhưng gặp phải sự phản đối, nhiều người dân cho rằng nên để các chủ cơ sở được tiếp tục nuôi hổ vì mục đích bảo tồn. Ngoài ra ở Thanh Hóa hiện nay còn có trang trại nuôi dưỡng 11 cá thể hổ trưởng thành, con to nhất nặng trên 150 kg (Thức ăn của hổ chủ yếu là thịt lợn, thịt gà. Trung bình mỗi ngày hổ ăn hết khoảng 5 kg thịt lợn, thị gà). Ngoài ra, tại Khu du lịch Đại Nam còn có nuôi một số cá thể hổ Đông Dương. Bên cạnh đó, còn phát hiện được bốn con hổ trưởng thành tại điểm nuôi nhốt hổ trái phép tại xã Đô Thành (huyện Yên Thành, Nghệ An) trong căn phòng chưa đầy 15m2 của một hộ dân, có tới bốn con hổ một phát hiện khác cho thấy còn có khoảng trên chục hộ cũng làm nghề này trong đó chính quyền đã bắt và xử lý 02 cá thể hổ để đưa về Khu Du lịch sinh thái trại bò ở xã Diễn Lâm (Diễn Châu). Nơi đó, hiện đang nuôi hàng chục cá thể hổ và nhiều động vật hoang dã khác.

Ngay từ năm 1963, Nhà nước Việt Nam đã ban hành sắc lệnh bảo vệ hổ. Những năm gần đây, nhiều biện pháp cụ thể cũng được thực hiện như ban hành Nghị định, Quyết định, Thông tư, Chỉ thị về cấm săn bắt, buôn bán hổ và tiến hành xử lý nghiêm những kẻ vi phạm, lập nhiều khu bảo vệ, rừng cấm, phối hợp với WWF khảo sát, tạo môi trường sống thuận lợi tại những nơi hổ thường xuất hiện như Mường Nhé, Vụ Quang, Cát Lộc, Nam Cát Tiên. Chính quyền Việt Nam từng có dự án chi 49 triệu USD để bảo tồn hổ trong một dự án nhân đôi đàn hổ hoang dã ở Việt Nam trong 10 năm, theo tính toán, chi phí cho việc nuôi một cá thể hổ đến tuổi trưởng thành tốn gấp 250 lần so với bắt một con trong hoang dã, trung bình mỗi con hổ cần không dưới 400 ha sinh cảnh rừng đặc dụng, nơi có nhiều loại thú khác nhau cùng tồn tại. Năm 2011, Ngày Quốc tế Hổ lần đầu tiên tổ chức tại Việt Nam với nhiều hoạt động thiết thực nhằm nâng cao nhận thức về việc bảo vệ loài vật đang có nguy cơ bị tuyệt chủng, Hoạt động này sẽ diễn ra hằng năm trên toàn thế giới

Các nền văn hóa khác

Hình tượng con hổ trong văn hóa
Cảnh săn hổ ở Mãn Châu

Hổ đã để lại những dấu ấn đối với các dân tộc tại vùng Tây Bá Lợi Á vùng đất nơi cư ngụ của giống hổ Mãn Châu to lớn. Người Tungus, một dân tộc ở vùng Tây Bá Lợi Á gọi giống hổ Mãn Châu bằng tên gọi với ý nghĩa tôn xưng là Ông hay Ông già, người Udege và người Nanai gọi hổ Mãn Châu bằng tên gọi Amba với ý nghĩa sùng kính cùng với gấu (Doonta). Người Mãn Châu gọi tên hổ với ý nghĩa là vua (Hu Lin) đối với người Ghiliak thì hổ với cuộc sống và tập tính của nó, là một con người đích thực, chỉ tạm thời khoác hình dáng hổ. Theo ghi chú của Uno Harva thì Sternberg đã xác nhận ở lưu vực sông Amur có nhiều bộ lạc cho mình xuất thân từ hổ hay từ gấu, bởi thủy tổ của họ đã nằm mơ có quan hệ tình dục với những con vật này.

Trên cờ Lungta/rlung-rta (cờ cầu nguyện ở Tây Tạng) thường có sự hiện diện của bốn linh vật ở mỗi góc, được gọi là Tứ linh () bao gồm là Sư Tử Tuyết trắng () ở phương Đông, Hổ () là con Hổ vàng trụ ở phương Tây, Rồng Xanh () ở phương Nam, Mệnh lệnh điểu () ở phương Bắc Hổ vàng tượng trưng cho niềm kiêu hãnh vô điều kiện, sự tỉnh thức và lòng khiêm hạ, Hổ vàng an trụ trong tư thế thư giãn tự nhiên của sự hài lòng và viên mãn mọi tâm nguyện, thế đứng của hổ vàng đẹp nhất trong các loài vật và hổ cũng là loài có bộ lông đẹp nhất trong tất cả các loài vật. Răng Nanh và móng vuốt của nó nêu biểu sức mạnh và nghệ thuật. Hổ tượng trưng cho vị thần hộ trì chống trộm cắp và hỏa hoạn. Sự hiện diện của Hổ vàng ở phương Tây nêu biểu cho thành công nhiều phương diện, Hổ vàng bảo hộ chúng sinh trong khu vực lân cận khỏi những ảnh hưởng của năng lượng tiêu cực từ phương Tây.

Đối với những dân tộc ở vùng Ấn Độ, với đặc điểm là khu vực phân bố nhiều loài hổ nhất trên thế giới cho nên từ lâu trong văn hóa, hổ đã hiện diện rõ rệt ở đây. Trong tranh tượng đạo Hinđu, da hổ là một chiến quả của thần Siva và Hổ là vật cưỡi của thần Shakti, của năng lượng thiên nhiên mà Siva đã không phục tùng và ngược lại, đã chế ngự (Choc, Dana, Crad, Gues, Kall, Lecc, Ogrj). Hổ còn là vật cưỡi của nữ thần Durga trong cuộc chiến chống lại ác quỷ Parvati, ở miền Nam Ấn Độ thì hổ là bạn của vị thần Ayyappan Hổ là một trong những động vật được khắc họa ở dấu ấn Pashupati của nền văn minh Sông Ấn đã tàn lụi. Những hình ảnh của hổ được in trên phù hiệu của Vương triều Chola và những đồng tiền của vương triều này. Những dấu ấn của vương triều Chola hiển thị hình ảnh của hổ và quốc huy của vương triều Pandya cũng có hình của những con hổ Trong Phật giáo Ấn Độ, hổ cùng với khỉ và hươu cũng là một trong ba linh vật thiêng liêng Cũng trong Phật giáo, con hổ biểu tượng cho sức mạnh của niềm tin, sự chiến thắng mọi trở ngại trên con đường tu chứng do đó hình ảnh thường thấy là hình tượng Bồ Tát Văn Thù cưỡi trên lưng hổ và đó là sự tượng trưng cho sự diệt trừ được tham, sân, si và ác nghiệp, tu thành quả Phật.

Ngoài ra, trong lục địa châu Á nói chung, hổ đôi khi thường đóng vai trò của một con ma mèo (Werecat) hay còn gọi là , hay hay , đó là những con yêu tinh được hư cấu xoay quanh hình tượng con hổ. Ở Ấn Độ, hổ thành tinh thường là một thầy phù thủy nguy hiểm, được miêu tả là một mối đe dọa cho những người chăn nuôi gia súc. Ở Thái Lan một con hổ mà ăn thịt nhiều con người có thể trở thành một con hổ tinh. Ngoài ra còn có các loại ma hổ chẳng hạn như phù thủy với quyền năng lớn, có thể thay đổi hình dạng để trở thành động vật. Trong dân gian Indonesia và Malaysia có một loại hổ tinh được gọi là (), con yêu tinh này có sức mạnh được truyền lại và biết sử dụng phép thuật, sự quyến rũ nhưng nó không phải thù địch với người đàn ông. Trong các sinh vật truyền thuyết ở Nhật Bản có quái vật Nue (鵺), đây là một con quái vật tổng hợp các bộ phận của nhiều loài động vật trong đó nó có tấm thân, cái chân và bộ da của một con hổ.

Hổ đang chiến đấu với yêu quái

Hổ Mã Lai là biểu tượng quốc gia của Malaysia, nó xuất hiện trên quốc huy Malaysia cũng như trong biểu trưng của một loạt các tổ chức nhà nước của Malaysia, như của Maybank, Tập tinm Negara Malaysia và FAM. Nó tượng trưng cho lòng dũng cảm và sức mạnh của người Mã Lai. Hổ Mã Lai được miêu tả nổi bật trong văn hóa dân gian Malaysia, trong vai trò của một trong số các kẻ thù của (hươu chuột), cũng ở Mã Lai, những vị thầy lang có phép biến hóa thành hổ gợi nhắc đến chi tiết nhiều sắc dân ở vùng Đông Nam Á, con hổ được tổ phụ huyền thoại được xem như thầy truyền pháp vì hính hổ dẫn các tín đồ mới vào rừng để truyền phép cho họ, thực tế là để giết họ và làm họ sống lại Tại Miến Điện, Hổ (ကျား kya) cũng là biểu tượng của 12 cung hoàng đạo và là ngày thứ 2 đầu tuần và theo hướng đông. Trong văn hóa người Bali, hổ chiếm một vị trí đặc biệt trong văn hóa dân gian nước này, điều này thể hiện ở những bức họa Kamasan của Vương quốc Klungkung

Ở vùng Lưỡng Hà, có những hình tượng khắc ghi về người anh hùng huyền thoại Gilgamesh đã đánh bại người mục tử hung ác và biến nó thành con hổ và những di chỉ của dấu ấn Mohenjodaro ở lưu vực sông Ấn thì vị anh hùng này còn được mô tả cảnh đang vật lộn với hai con hổ, những con hổ còn thường được miêu tả ngay cả trong nghệ thuật của nền văn hóa thảo nguyên châu Á khoảng từ 1000-500 trước Công nguyên mà tiêu biểu là của người Scythia. Trong nghệ thuật Iran cổ đại thì hình ảnh của hổ một mô hình tương đối hiếm, mặc dù những con hổ phân bố tương đối nhiều ở vùng này. Truyền thuyết Hy Lạp, giải thích tại sao người ta đặt tên Tigre hay Tigrit (con hổ) cho một con sông ở Mésopotamie (Lưỡng Hà), con sông đó trước kia tên là Sollax. Để quyến rũ một nữ thần sông núi châu Á là Alphésibée mà thần say mê, Dionysos đã hóa thành hổ. Chạy đến bờ sông, Alphésibée không thể trốn đi đâu nữa và phải để cho con ác thú túm lấy mình, và nó đã đưa thần sang bờ bên kia. Con trai họ, Médès, là bán thần được lấy tên đặt cho dân tộc Mèdes còn con sông thì được đặt tên là Tigre, để tưởng nhớ nữ thần sông núi và vị thần đã hợp thân trên bờ sông này. Theo những truyền thuyết khác bắt nguồn từ Babylone, sông Tigre sinh ra từ đôi mắt Đấng tạo hóa Mardouk

Trong văn hóa phương Tây thì hình ảnh của con hổ không phổ biến, nó không được tìm thấy trong Kinh Thánh

Trong thời kỳ Hy Lạp cổ đại cũng như ở châu Âu, con hổ được biết đến thường là chỉ thông qua các chiến dịch của Alexander Đại đế viễn chinh đến Châu Á. Con hổ đầu tiên được người phương Tây mục sở thị là một món quà từ vua Seleukos gửi đến Athens. Tại thời điểm này sư tử hoang dã vẫn đang sinh sống ở Hy Lạp, điều này giải thích lý do tại sao hình tượng con con sư tử trong văn hóa phương Tây phổ biến hơn rất nhiều so với con hổ và cũng bởi vì hổ không sinh sống ở châu Âu và hình ảnh của nó không được tìm thấy trong Kinh Thánh cho nên dường như con hổ đã rơi vào quên lãng ở châu lục này trong một thời gian dài. Chỉ cho đến chuyến đi của Marco Polo đến châu Á vào thế kỷ XIII, ông đã phát hiện và mô tả lại cho người châu Âu về hổ. Marco Polo đã nhìn thấy chúng lần đầu tiên tại hoàng cung của Hốt Tất Liệt, Marco Polo mô tả nó như một con sư tử, thậm chí còn to lớn hơn và nó có sọc màu đen, trắng và màu đỏ. Con hổ đầu tiên đến châu Âu trong giai đoạn hậu La Mã là một con hổ thuộc sở hữu của nữ công tước Savoy ở Turin vào năm 1478, một thời gian ngắn sau khi chuyển đến một địa điểm khác ở châu Âu.

Trong thời kỳ La Mã cổ đại, con hổ đã được nuôi trong các rạp xiếc. Con hổ đầu tiên tại Rome là một món quà của Augustus từ Ấn Độ trong những năm 19 trước Công nguyên, con hổ thứ hai là việc mở cửa của Nhà hát của Marcellus trong 11 trước Công nguyên cho dân chúng được chứng kiến. Hổ là loài dã thú có sức mạnh và được sử dụng vào những cuộc chiến đấu và mua vui vào thời La Mã cổ đại, trong các rạp xiếc, những con dã thú thường được tổ chức đọ sức với nhau, những dã thú ăn thịt hoặc có sức mạnh như hổ, sư tử, gấu, báo, voi rừng, tê giác, lợn lòi…. được sắp xếp trong một cuộc đấu mua vui cho giới quý tộc cũng như giới bình dân để giải trí cũng như thỏa mãn mục sở thị. Những bức phù điêu, chạm trổ trong một thần điện tại Pompeii cho thấy một cuộc chiến giữa một con sư tử và hổ. Cuộc quyết đấu giữa cặp đôi hổ và sư tử được coi là kinh điển nhất và tỷ lệ đặt cược thường ủng hộ cho những con hổ. và trong những cuộc chiến như thế này, hổ thường giành phần thắng và là kẻ cuối cùng bước ra khỏi đấu trường.

Trong truyền thông, giải trí

Hổ cũng xuất hiện nhiều trong các bộ phim ảnh, phim hoạt hình, Trong bộ phim Cậu bé rừng xanh công chiếu vào năm 1942 do Sabu Dastagir vào vai Mowgli. Thì con hổ Shere Khan được mô tả đúng như tiểu thuyết là một con hổ hung ác, và sau này bị Mơgli giết chết trong một trận đánh diễn ra dưới nước. Trong bộ phim Cậu bé rừng xanh (năm 1994) của Mỹ với sự tham gia của ngôi sao Jason Scott Lee vào vai Mowgli thì con hổ Shere Khan được mô tả có khác với tiểu thuyết, trong phim, Shere Khan thực sự là một con hổ thiêng, có nhiệm vụ thực thi , nó là một con hổ tinh khôn, đóng vai trò là người canh giữa ngôi đền thiêng trong rừng già Ấn Độ và là vị chúa tể của cả Khu rừng này, Shere Khan sẽ vồ những kẻ xấu và vi phạm luật của rừng xanh. Sau đó tiếp tục có hai bộ phim hoạt hình về chủ đề này là Cậu bé rừng xanh chiếu năm 1967 và Cậu Bé Rừng Xanh 2 (2003).

Một bộ phim nổi danh khác là Tây Du Ký (năm 1986) trong đó có cảnh Đường Tăng hóa hổ trong tập 11 , đây là một cảnh quay hết sức khó khăn và vất vả lúc bấy giờ. Ban đầu đoàn làm phim chọn một chú hổ trong Vườn bách thú Tân Hương, tuy nhiên Chú hổ này vốn là hổ nuôi nhốt nên tỏ ra lười biếng và không thực hiện cảnh quay theo đúng kịch bản, nó không hề thấy hổ ló đầu ra khu sân trong lồng, chỉ đến lúc cho ăn, hổ thò ra ăn xong lại vội chui vào bên trong và nằm luôn trong đó. Đoàn làm phim quyết định chọn một chú hổ trong rạp xiếc của Đoàn xiếc Thượng Hải, vì những con hổ này đã được huấn luyện, tuy vậy con hổ này lại tỏ ra rất cảnh giác vì bối cảnh quay lạ lẫm và Đoàn làm phim luôn trong trạng thái căng thẳng vì chú hổ thay đổi tính nết mà trở nên hung hãn, đặc biệt khi môi trường của chúng lại trở nên khác lạ. Trong khi quay, người và hổ đối mặt một lúc, chú hổ đi quanh lồng xem xét một vòng và nhân thấy người trong lồng không có ác ý nên nó tỏ ra không đề phòng, cảnh giác, nó rướn người ngáp, nó ngồi xuống và thư thái gác đầu lên hai chân trước, dùng lưỡi liếm liếm nhẹ vào chân. Để phục vụ theo yêu cầu của cảnh quay trong phim, nhân viên huấn luyện hổ yêu cầu hổ đứng dậy cho quay phim ghi lại cảnh hổ đứng dậy đi lại.

Một bộ phim của điện ảnh Nga có tên Coi chừng, có động vật hoang dã trên tàu! (Chuyến tàu chở hổ) cũng có miêu tả về loài hổ trong đó chiếu về một đàn hổ được chở trên một chuyến tàu và có một sự cố xảy ra khi một chú khỉ nghịch ngợm đã lấy chìa khóa mở chuồng hổ. Đàn hổ bơi vào một bãi biển và gây kinh hoàng náo động cho những người đang tắm. Trong phim còn có một tiểu cảnh nhỏ mô tả cảnh đánh nhau giữa hổ và sư tử. Một bộ phim Thái Lan công chiếu năm 2002 có tựa đề: ไพรรีพินาศ ป่ามรณะ (Sab Suea) tên tiếng Anh: Tigress of the King River, phụ đề tiếng Việt: có kể về một cô gái bị chết trong chiến tranh và đầu thai vào một con hổ cái thành tinh, sau này được một nhà sư cảm hóa ác tính.

Hình tượng con hổ trong văn hóa
Áp phích bộ phim Cuộc đời của Pi

Đặc biệt là bộ phim Cuộc đời của Pi được công chiếu năm 2012 của đạo diễn Lý An đã gây ấn tượng với hình ảnh con hổ Richard Parker một con hổ Bengal được xây dựng bằng công nghệ đồ họa tân tiến và hiện đại bậc nhất vào thời điểm đó tạo nên hiệu ứng về hình ảnh của con hổ tuyệt đẹp và sống động, Con hổ trong phim phần lớn là do sự sáng tạo kỳ diệu của kỹ thuật số CGI tiên tiến, kỹ thuật này tạo nên một sinh vật sống động như thật dựa trên tư liệu về hình ảnh và vật lý từ bốn chú hổ Bengal và được đánh giá là con hổ được tạo từ các kỹ xảo đồ họa máy tính thật nhất trong lịch sử. Và việc tạo hình chú hổ này là cả một quá trình công phu của êkip làm phim. Trong bộ phim có 23 cảnh quay với hổ thật và xen kẽ vào đó là hổ CG. Đoàn làm phim quay phim với con hổ thật trước trong khoảng 4,5 tiếng, phần khó nhất là khuôn mặt. Các chuyên gia đã thu thập tất những chi tiết quan trọng từ 4 chú hổ thật với 3 chú hổ ở Pháp và 1 ở Canada. Chú hổ đực tên King là mô hình chính để tạo dựng chú hổ Richard Parker, trong khi 2 hổ cái được sử dụng làm mô hình để tạo nên những hành động hung hãn của Parker. Còn trong những lúc Parker ngoan ngoãn hơn, như khi bị say sóng, thì các chuyên gia lại dựng mô hình theo chú hổ Canada.

Bài chi tiết: Shin Long

Trong trò chơi điện tử Đấu trường đẫm máu (tên gốc tiếng Anh: Bloody Roar, tên tiếng Nhật: ブラッディロア (Nhật: Buraddi Roa ?) do công ty Hudson của Hoa Kỳ sản xuất và sau đó được hãng Konami của Nhật Bản phát triển trên hệ máy PS (Playstation) và XBox với nội dung là những trận đánh giữa những người hóa thú, trong đó hai nhân vật là Shin Long một cao thủ võ thuật và là một sát thủ khi biến hình (thú hóa) anh sẽ trở thành một con hổ Trung Hoa, sử dụng võ công truyền thống của Trung Hoa, với những đòn liên hoàn đẹp mắt từ tinh hoa của võ học Trung Hoa với những đòn thế liên quan đến động tác của loài hổ. Cũng trong trò chơi này, Long có một kẻ thù nguy hiểm là Shen Long (Thanh Long) cũng là một kẻ có khả năng thú hóa thành một con hổ trắng (chính xác là cọp xám) và cũng chính là bản sao của Long với cách đánh tương tự như Long nhưng lại sử dụng nhiều các chiêu thức của võ công đã cách tân (nhiều các đòn thế của võ đường phố).

Một bộ truyện tranh của Nhật Bản được lưu hành tại Việt Nam có tên Tiểu hòa thượng kể về chú tiểu Nhất Viên trong hành trình đi đi tìm 12 linh thú và dùng sức mạnh của linh thú kết hợp với sức mạnh 12 sao tà, 12 đệ tử của Tiên Đạo Môn để chống lại Kasa đang dần trở lại sau 500 năm để trừ họa cho thế gian cũng có kể về một nhân vật liên quan đến đó là Ác hổ Lý Sam, đại ca của băng Hổ đói anh này chính là một trong 12 linh thú và cầm tinh con hổ, sau khi được hướng dẫn, Lý Sam đã sang Ấn Độ để tìm vũ khí cho mình đó là Bóng hổ, một con hổ màu đen nhanh chập chờn và lợi hại. Điều thú vị là trong truyện này có kể về 12 linh thú (tượng trưng cho 12 con giáp), 12 sao tà (tượng trưng cho 12 cung hoàng đạo).

Thành ngữ về hổ

Hình tượng con hổ trong văn hóa
Hổ mọc thêm cánh

Hình tượng con hổ trong văn hóa
Hổ độc không cự được cáo đàn

Là loài vật mạnh mẽ, lại ngộ nghĩnh, độc đáo và giàu ý biểu tượng, hổ được lấy làm hình ảnh ẩn dụ sinh động cho nhiều câu thành ngữ, tục ngữ, ngạn ngữ một cách rộng rãi. Theo thống kê sơ bộ, người Việt có khoảng 1.300 câu ngạn ngữ, phương ngữ, thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca có liên quan đến loài hổ Những thành ngữ chỉ về con hổ được trải rộng trên rất nhiều lĩnh vực các nhau trong đời sống xã hội, có nhiều câu chỉ trực tiếp hoặc gián tiếp và người ta thường sống trong lời ăn tiếng nói của dân gian mượn chuyện con hổ để răn mình và nhắc nhở người. Những câu thành ngữ có thể kể đến là:

  • (Tục ngữ Việt Nam)
  • và một thành ngữ ý trái ngược là
  • (Truyện Kiều)
  • (mô tả về Từ Hải trong Truyện Kiều)
  • (Hán Việt: )
  • hay (Hán Việt: )
  • hay còn gọi là (Binh pháp)
  • (dịch nghĩa: )
  • : (Binh pháp)

Chú thích

Liên kết ngoài

  • Phương tiện liên quan tới Tigers in art tại Wikimedia Commons
  • Phương tiện liên quan tới Tigers in art of Vietnam tại Wikimedia Commons
  • Kể lại chuyện hổ dữ trả thù tàn khốc ở Tuyên Quang

—end—

Xem Thêm

Đỗ Quang (danh nhân)

Bệnh tụ huyết trùng ở gia cầm

Tu viện Dòng Thánh Phaolô thành Chartres, Sài Gòn

Payola

Trịnh Cương

Thảo luận:Kiếm

Check Also

Close

  • Wiki

    Vườn quốc gia Phú Quốc

Tìm kiếm cho:

Xem Nhiều

  • Thanh Xuân Cấp 3 Của Chúng Ta Hôm Nay ♥️

  • Album hình Phóng sự cưới Khoả – My

  • Đỗ Quang (danh nhân)

  • Bệnh tụ huyết trùng ở gia cầm

  • Tu viện Dòng Thánh Phaolô thành Chartres, Sài Gòn

  • Payola

  • Trịnh Cương

  • Thảo luận:Kiếm

  • Vườn quốc gia Phú Quốc

  • The Who

Chuyên Mục

  • Blog

    36.780

  • Album Khách Hàng

    21

  • Dịch Vụ

    3

Back to top button


Close

Tìm kiếm cho:


Kín lưng Triệu Tử Long tại Chị Lụ Tattoo (Trung Xá Lụ)


Ae nhu cầu công việc quảng cáo liên hệ zalo 0944211238
Nhận đào tạo hv chuyên cần
385 hoàng quốc việt Hn

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Tổng Hợp
Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Tổng Hợp

Related Articles

Back to top button