Tổng Hợp

Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn nguyễn minh châu sau 1975

Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn nguyễn minh châu sau 1975

pdf – 63 trang

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA: NGỮ VĂN

TRẦN THỊ HƯƠNG

NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG

TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU

SAU 1975

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học

TS. LA NGUYỆT ANH

HÀ NỘI – 2015

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, em

đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô giáo và bạn bè.

Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy, cô giáo

khoa Ngữ văn, đã truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu của mình

cho sinh viên.

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ La Nguyệt Anh, người đã

bỏ ra rất nhiều thời gian, công sức và nhiệt huyết để giảng dạy cho em nhiều

điều, giúp đỡ cho em không chỉ về kiến thức mà còn cả về tinh thần để em có

thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và bạn bè,

những người luôn ở bên cạnh giúp đỡ cho em.

Khóa luận bước đầu tìm hiểu một vấn đề nhỏ trong một tác giả văn học

lớn, vì vậy không thể tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận được những

lời đóng góp, chia sẻ của quý thầy cô giáo và các bạn đó là động lực lớn lao

nhất để em hoàn thành tốt khóa luận này.

Hà Nội, tháng 5 năm 2015

Sinh viên

Trần Thị Hương

LỜI CAM ĐOAN

Tên em là: TRẦN THỊ HƯƠNG

Sinh viên lớp: K37A khoa Ngữ văn, trường Đại học sư phạm Hà Nội 2.

Em xin cam đoan:

Khóa luận là công trình nghiên cứu của cá nhân, dưới sự hướng dẫn của

Tiến sĩ La Nguyệt Anh.

Em xin cam đoan rằng kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là trung

thực và không trùng lặp với các đề tài khác và các thông tin trích dẫn trong

khóa luận đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nghiên cứu của mình.

Người cam đoan

Trần Thị Hương

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU …………………………………………………………………………………………….. 1

1. Lí do chọn đề tài…………………………………………………………………………….. 1

2. Lịch sử vấn đề ……………………………………………………………………………….. 2

3. Mục đích nghiên cứu………………………………………………………………………. 4

4. Nhiệm vụ nghiên cứu ……………………………………………………………………… 5

5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……………………………………………………. 5

6. Phương pháp nghiên cứu ………………………………………………………………… 6

7. Đóng góp của khóa luận …………………………………………………………………. 6

8. Bố cục của khóa luận ……………………………………………………………………… 7

NỘI DUNG …………………………………………………………………………………………. 8

CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGÔN NGỮ NGHỆ

THUẬT VÀ THỂ LOẠI TRUYỆN NGẮN …………………………………………….. 8

1.1.Giới thuyết chung về ngôn ngữ và ngôn ngữ nghệ thuật……………………. 8

1.1.1. Khái niệm về ngôn ngữ và ngôn ngữ nghệ thuật ………………………… 8

1.1.2. Đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật trong văn học ……………………. 9

1.1.3.Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn…………………………………… 10

1.2. Nguyễn Minh Châu và quá trình sáng tạo nghệ thuật …………………….. 12

1.2.1. Vài nét về tác giả Nguyễn Minh Châu …………………………………….. 12

1.2.2. Quá trình sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu …………….. 14

CHƯƠNG 2. ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG

TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU SAU 1975 ………………………….. 20

2.1. Ngôn ngữ trần thuật hiện thực, tỉnh táo ……………………………………….. 21

2.1.1. Ngôn ngữ trần thuật mang tính khách quan …………………………….. 21

2.1.2. Ngôn ngữ trần thuật đậm chất đời thường ………………………………. 25

2.2. Ngôn ngữ đối thoại đậm chất triết lý và suy tư …………………………….. 28

2.2.1. Ngôn ngữ đối thoại đâm chất triết lý ………………………………………. 30

2.2.2. Ngôn ngữ đối thoại mang đậm chất suy tư ……………………………. 38

2.3. Ngôn ngữ độc thoại đậm chất trữ tình ………………………………………….. 42

2.3.1. Ngôn ngữ đậm chất trữ tình trong việc miêu tả thiên nhiên……….. 44

2.3.2. Ngôn ngữ đậm chất trữ tình trong việc thể hiện con người ……….. 48

KẾT LUẬN ………………………………………………………………………………………. 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989) là một trong những gương mặt tiêu

biểu nhất của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại. Sinh ra trong một gia đình giàu

truyền thống yêu nước, ông tham gia kháng chiến và cùng đồng đội trải qua

những tháng năm ác liệt của hai cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc. Đó

là những trải nghiệm thực tế của ông, nguồn cảm hứng để ông sáng tác văn

học.

Trước năm 1975, với tư cách là nhà văn – chiến sĩ, Nguyễn Minh Châu

đi đúng theo quy luật vận động của thời đại với mục tiêu cao cả là phục vụ

kháng chiến, cổ vũ chiến đấu nhiệt tình ca ngợi các giá trị mới.

Sau 1975, cùng với sự đổi mới của văn học, Nguyễn Minh Châu cũng

đã đổi mới về cách viết, cách tiếp cận đời sống, và đặc biệt chú ý đến đặc

trưng ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác của mình.

Ở chặng đầu trên hành trình đổi mới còn đầy khó khăn của nền văn

học, Nguyễn Minh Châu đã trải qua ‘‘một cuộc trở dạ đầy đau đớn’’. Là nhà

văn quân đội, Nguyễn Minh Châu từng có những trang văn đầy hảo sảng và

được đánh giá cao trong những năm chiến tranh. Tuyên ngôn về sự đổi mới

với ý thức vượt qua giai đoạn văn nghệ ‘‘minh họa’’. Chính vì vậy, những

trang văn của ông sau 1975 có một sắc thái mới thể hiện rõ tinh thần dân chủ.

Đặc biệt, ở phương diện ngôn ngữ trong một không gian văn hóa, một tư duy

nghệ thuật mới sáng tác của Nguyễn Minh Châu cũng mang một sắc thái mới.

Mặt khác, sáng tác của Nguyễn Minh Châu được đưa vào các bậc học,

nghiên cứu chuyên sâu về bất cứ vấn đề nào xung quanh những sáng tạo nghệ

thuật của ông, đều có ý nghĩa thiết thực đối với việc học tập, nghiên cứu,

1

giảng dạy, sáng tác của Nguyễn Minh Châu nói riêng và truyện ngắn nói

chung.

Khao khát tìm hiểu thể giới ngôn ngữ đặc sắc, độc đáo của Nguyễn

Minh Châu đã thôi thúc chúng tôi tìm hiểu đề tài: “Ngôn ngữ nghệ thuật

trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975”.

2. Lịch sử vấn đề

Nguyễn Minh Châu đã từng nói “Bất cứ một cây bút nào cũng không

thể làm công việc của cả một nền văn học. Miễn là mỗi người với tất cả tâm

lòng trân thành với cuộc sống, hãy in cho thật sâu đậm dấu vết và bản sắc tư

tưởng cùng tiếng nói nghệ thuật riêng của mình – tức cũng là chút đóng

góp”.[2; tr307]. Sáng tác của Nguyễn Minh Châu ra đời gây được sự chú ý

của bạn đọc cũng như giới nghiên cứu, phê bình. Tính đến nay, tìm hiểu về

Nguyễn Minh Châu có nhiều công trình nghiên cứu về quá trình sáng tác,

phong cách nghệ thuật… Đa phần các công trình nghiên cứu này đều tìm hiểu

sự đổi mới qua hai giai đoạn trước 1975 và sau 1975.

Nguyễn Kiên cũng góp thêm tiếng nói khẳng định giá trị tích cực mang

tính định hướng mở đường của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, đặc biệt là

những tác phẩm ra đời ở giai đoạn sau. Tác giả viết “Truyện ngắn của Nguyễn

Minh Châu phù hợp với nhu cầu phất triển chung. Nó vượt ra một cái gì gọi

là chuyện riêng của Nguyễn Minh Châu. Sáng tác của anh để chúng ta bàn

bạc được nhiều vấn đề lớn hơn” [14; tr300]. Nhìn chung nhiều nhà nghiên

cứu đã lên tiếng ủng hộ sự tìm tòi đổi mới của Ngyễn Minh Châu, khẳng định

một tài năng đã được định hình và càng về sau càng vươn tới độ chín cần

thiết. Các công trình nghiên cứu phải kể đến Luận án của Tiến sĩ Nguyễn Thị

Bình với đề tài: Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975

hay công trình của Tiến sĩ Tôn Phương Lan đặt vấn đề nghiên cứu Phong

cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, PGS. Nguyễn Văn Long – TS. Trịnh

2

Thu Tuyết với cuốn sách Nguyễn Minh Châu và công cuộc đổi mới văn học

Việt Nam sau 1975. Các công trình nghiên cứu đã đề cập ở nhiều phương diện

để thấy sự đổi mới về thể loại truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu.

Xem thêm :  Xem Phim Vượt Ngục (Phần 1) Tập 16 (HD,THUYẾT MINH ,VIETSUB)

Về phương diện ngôn ngữ truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu thì có

một số công trình nghiên cứu như Ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ

nhân vật trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu

của Cao Xuân Hải hay Luận án Tiến sĩ của Đỗ Thị Liên Trường Đại học

Khoa học xã hội và Nhân văn Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn

Khải và Nguyễn Minh Châu.

Các công trình nghiên cứu này, đa phần đề cập đến vấn đề sử dụng

ngôn ngữ trong các truyện ngắn của ông và đi vào liệt kê các cách sử dụng

ngôn ngữ. Sau 1975, với sự chuyển biến về tư tưởng và bút pháp truyện ngắn

Nguyễn Minh Châu có sự đổi mới về cách tiếp cận đời sống và con người

trong thời đại đó. Có nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Minh Châu như

Những chuyển biến về tư tưởng và bút pháp trong truyện ngắn Nguyễn Minh

Châu sau 1975 khóa luận của Nguyễn Văn Công – Trường Đại học sư phạm

Thành phố Hồ Chí Minh hay bài viết của giáo viên Nguyễn Thị Minh Tâm Trường THPT Võ Nguyên Giáp Những đổi mới trong quan niệm nghệ thuật

về con người của Nguyễn Minh Châu sau 1975. Một số nhà nghiên cứu văn

học cũng đã đưa ra một số nhận định liên quan đến ngôn ngữ nghệ thuật trong

truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu như Nguyễn Trọng Hoàn trong “Truyện

ngắn Bức tranh – sự đối diện và thức tỉnh lương tâm” đã có cái nhìn khái

quát về ngôn ngữ trần thuật, cách thức trần thuật, giọng điệu trần thuật trong

truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu khi nói rằng “Ở Nguyễn Minh Châu còn

phải kể đến sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ đa thanh và thời gian,

không gian và đồng hiện. Khi lùi vào độc thoại nội tâm, khi chuyển sang đối

thoại trực tiếp, lúc cắt ngang bình luận ngoại đề, sự đan xen linh hoạt đó

Xem Thêm :   Những tác phẩm hay nhất trong chủ nghĩa văn học hiện thực

3

khiến cho ngôn ngữ tác phẩm có giọng điệu phức hợp, tạo nên hiệu quả cá

biệt hóa hình tượng nhân vật từ bình diện đến điểm

nhìn trần thuật”

[14; tr171].

Trần Đình Sử cũng thấy biệt tài của nhà văn trong việc sử dụng ngôn

ngữ trần thuật làm cơ sở hình thành hệ thống, giọng điều trần thuật sinh động,

phong phú và đa dạng. tác giả viết: “Anh là nhà văn có biệt tài sử dụng chi

tiết, miêu tả chân dung, môi trường, khắc họa tâm lí…anh lại sành vận dụng

ngôn ngữ nửa trực tiếp, dựng lại được những giọng điệu khác nhau của nhân

vật’’. [21; tr192]

Như vậy, khi tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Minh Châu các nhà nghiên

cứu coi vấn đề ngôn ngữ trong truyện ngắn của ông đó là một trong những

yếu tố quan trọng không trộn lẫn của ông trong bước đường cách tân nghệ

thuật văn chương tạo sự khác biệt giữa hai giai đoạn văn học.

Theo cuốn sách Nguyễn Minh Châu – về tác gia và tác phẩm, thư mục

tài liệu nghiên cứu tác gia, tác phẩm Nguyễn Minh Châu ghi nhận có đến 150

bài viết và công trình nghiên cứu lớn nhỏ. Sáng tác của Nguyễn Minh Châu

còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều luận văn tốt nghiệp bậc đại học, cao

học. Có rất nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Minh Châu sau 1975 và

nhiều ý kiến cá nhân về ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn của ông

nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào tìm hiểu sâu về đặc trưng ngôn ngữ.

Kế thừa và phát huy những thành tựu mà các nhà phê bình, nhà nghiên cứu đã

tìm hiểu. Trong khuân khổ cho phép, khóa luận này em mạnh dạn đi sâu vào

tìm hiểu về phương diện ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn của

Nguyễn Minh Châu sau 1975.

3. Mục đích nghiên cứu

Tìm ra những đổi mới về nghệ thuật và đặc trưng ngôn ngữ trong

truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sau 1975.

4

Làm rõ những phương diện, đặc trưng ngôn ngữ quan trọng tạo nên sức

hấp dẫn đặc biệt cho các sáng tác của Nguyễn Minh Châu trong giai đoạn

sáng tác này.

Qua đó khẳng định những đóng góp quý giá của Nguyễn Minh Châu

đối với nền văn học hiện đại và khẳng định vai trò của những sáng tác của

ông là những cách tân về ngôn ngữ nghệ thuật, góp phần đưa văn học Việt

Nam hội nhập với văn học hiện đại thế giới.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm hiểu những vấn đề lý thuyết chung về khái niệm ngôn ngữ nghệ

thuật và đặc trưng cơ bản về thể loại truyện ngắn.

Tìm hiểu vị trí truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trong nền văn học Việt

Nam và đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu

sau 1975.

Từ lí thuyết đã nêu vận dụng để nghiên cứu các tác phẩm cụ thể.Từ đó

giúp chúng ta khẳng định những đóng góp của Nguyễn Minh Châu một cách

toàn diện về sự đổi mới nghệ thuật sau 1975.

5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1. Đối tượng nghiên cứu

Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975

5.2. Phạm vi nghiên cứu

Khóa luận bên cạnh đi tìm hiểu những nét chính về cuộc đời và sự

nghiệp của Nguyễn Minh Châu còn đi sâu vào tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ

trong các truyện ngắn của ông, đặc biệt là truyện ngắn sau 1975.

Với khuôn khổ một khóa luận tốt nghiệp và khả năng làm chủ các tư

liệu có hạn, chúng tôi tìm hiểu đề tài Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện

ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 cụ thể qua : Tuyển tập truyện ngắn

Nguyễn Minh Châu.

5

Trong quá trình thực hiện đề tài người viết có thể so sánh với các tác

phẩm thời kỳ trước để thấy những nét riêng, độc đáo trong nghệ thuật của

Nguyễn Minh Châu sau 1975.

6. Phương pháp nghiên cứu

Cùng với việc sử dụng các phương pháp thường dùng trong văn học ở

khóa luận này chúng tôi tập trung vào các phương pháp nghiên cứu sau:

6.1. Phương pháp nghiên cứu tác giả văn học

Muốn chiếm lĩnh được nghệ thuật văn học phải đặt đối tượng nghiên

cứu trong mối quan hệ với cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn.Vì vậy

phương pháp này rất được coi trọng khi nghiên cứu về đề tài liên quan đến

con người, nghệ thuật của một nhà văn tác giả cụ thể.

6.2. Phương pháp phân tích – tổng hợp

Việc thực hiện đề tài Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn

Minh Châu sau 1975 cần phải có thao tác phân tích để làm rõ những đặc

điểm những giá trị nghệ thuật từ đó rút ra những nhận xét tổng hợp.

6.3. Phương pháp so sánh

Việc so sánh những tác phẩm của Nguyễn Minh Châu thời kỳ này và

thời kỳ trước nhằm làm nổi bật lên những đổi mới về phương diện ngôn ngữ

nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu sau 1975.

7. Đóng góp của khóa luận

Khóa luận góp phần làm rõ những đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật trong

truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu qua đó có cái nhìn toàn diện

hơn về cách tiếp cận, cách phản ánh đời sống của ông qua các tác phẩm.

Khóa luận hy vọng được cung cấp thêm một tư liệu nghiên cứu, học tập

giúp học sinh có thêm điều kiện tìm hiểu văn chương Nguyễn Minh Châu.

6

8. Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của

khóa luận được triển khai theo 2 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung

Chương 2: Đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn

Minh Châu sau 1975.

7

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT

VÀ THỂ LOẠI TRUYỆN NGẮN

1.1.Giới thuyết chung về ngôn ngữ và ngôn ngữ nghệ thuật

1.1.1. Khái niệm về ngôn ngữ và ngôn ngữ nghệ thuật

Ngôn ngữ là một hệ thống phức tạp, con người sử dụng để liên

lạc hay giao thiệp với nhau cũng như chỉ chính năng lực của con người có khả

năng sử dụng một hệ thống như vậy. Ngôn ngữ còn là một hệ thống tín hiệu

Xem thêm :  CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NHÂN VIÊN THỬ VIỆC CHUẨN XÁC

đặc biệt và quan trọng bậc nhất của loài người, cũng chính là phương tiện tư

duy và công cụ giao tiếp của xã hội. Gorki cũng khẳng định: “Ngôn ngữ là

yếu tố thứ nhất của văn học là công, chất liệu cơ bản của văn học nên nó

được gọi là loại hình nghệ thuật ngôn từ” [ 15, tr.35].

Vậy ngôn ngữ nghệ thuật là gì?

Ngôn ngữ nghệ thuật còn được gọi là ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ sử

dụng trong tác phẩm văn chương. Ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm văn

học là ngôn ngữ toàn dân đã được nghệ thuật hoá. Ngôn ngữ ấy được chọn

lọc, gọt rũa, chau chuốt,… và đặc biệt ngôn ngữ ấy phảỉ đem lại cho người

đọc những cảm xúc thẩm mĩ, xúc cảm được nhận biết thông qua những rung

động tình cảm.

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, ngôn ngữ văn học: “là một trong

những yếu tố quan trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách và tài năng

của nhà văn, mỗi nhà văn lớn bao giờ cũng là tỏa sáng về mặt hiểu biết sâu

sắc ngôn ngữ nhân dân, cần cù lao động để trau dồi ngôn ngữ trong quá trình

sáng tác” [10; tr215].

Theo tác giả Trần Đình Sử trong cuốn Lí luận văn học: “mọi tác phẩm

văn học đều được viết hoặc kể bằng lời: lời thơ, lời văn, lời tác giả,…gộp

Xem Thêm :   NHỮNG CUỐN SÁCH HAY CHO TUỔI TRẺ TRĂN TRỞ

8

chung gọi là lời văn. Nếu ngôn ngữ tức là lời nói, viết trong tất cả các tính

chất thẩm mĩ của nó là chất liệu của sáng tác văn học, thì lời văn là hình thức

ngôn từ nghệ thuật của tác phẩm văn học”. [22; tr.313]

Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì: “ngôn ngữ mang tính nghệ thuật

được dùng trong văn học. Trong ngôn ngữ học, thuật ngữ này có ý nghĩa rộng

hơn, nhằm chỉ một cách bao quát các hiện tượng ngôn ngữ được dung một

cách chuẩn mực trong cách văn bản nhà nước, trên báo chí, đài phát thanh,

trong văn bản và khoa học”. [10; tr.215]

Như vậy, ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ nghệ thuật nói riêng có vai

trò vô cùng quan trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà

văn. Và ngôn ngữ nghệ thuật giúp cho nhà văn, nhà thơ sáng tác ra những tác

phẩm hay và có ý nghĩa.

1.1.2. Đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật trong văn học

Ngôn ngữ của một tác phẩm văn học là một hiện tượng nghệ thuật. Đặc

trưng cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm văn học bao gồm tính

hình tượng, tính hàm súc, tính biểu cảm, tính chính xác.

Ngôn ngữ dân tộc là vốn chung mà mà mỗi người lại có cách sử dụng

khác nhau. Và qua đó thấy được tài năng và phong cách sáng tạo của từng

nghệ sĩ. Trong cuốn Thi nhân Việt Nam Hoài Thanh nhận xét: “Chưa bao giờ

người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ

mộng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn

Nhược Pháp, ảo nào như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế

Lan Viên… và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu”[19]. Như vậy

qua ngôn ngữ ta thấy những hiểu biết sâu sắc của tác giả về vốn sống, ngôn

ngữ, quá trình tích luỹ ngôn ngữ, vốn hiểu biết về văn hoá… của tác giả.

9

Vì vậy, ta không thể phủ định vai trò to lớn của ngôn ngữ nghệ thuật

đối với sáng tạo văn học và mỗi thời đại, mỗi thể loại lại có những đặc trưng

ngôn ngữ riêng.

1.1.3.Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn

1.1.3.1. Thể loại truyện ngắn

Truyện ngắn là một thể loại hết sức quen thuộc và gẫn gũi nhưng để

tìm một định nghĩa đầy đủ và chính xác thì không hề dễ. Theo Từ điển thuật

ngữ văn học, truyện ngắn được xác định như sau: “tác phẩm tự sự cỡ nhỏ.

Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời

sống: đời tu, thế sự hay sử thi nhưng cái độc đáo của nó là ngắn. Truyện

ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ”

[10; tr370].

Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học cũng cho rằng: “truyện ngắn là tác

phẩm tự sự cỡ nhỏ, được viết bằng văn xuôi… Nét nổi bật của truyện ngắn là

sự giới hạn về dung lượng…[1; tr345].

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều có sự thống nhất khi giới thiệu về

thể loại truyện ngắn trước hết qua dung lượng, qua tính chất của nó và xem:

“hình thức tự sự nhỏ, ngắn” trở thành đặc điểm và dấu hiệu để người đọc

nhân diện nó.

1.1.3.2. Đặc trưng ngôn ngữ của truyện ngắn

Truyện ngắn là một kiểu tư duy mới, sự nhận thức mới về cuộc đời mới

và nó cũng có những đặc trưng cơ bản sau:

Truyện ngắn thường ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp. Vì tác giả truyện

ngắn thường hướng tới một khoảnh khắc, phát hiện ra nét bản chất trong quan

hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người.

10

Bên cạnh đặc điểm “ngắn” các nhà nghiên cứu còn khu biệt truyện

ngắn ở tính chất giới hạn trong việc phản ánh đời sống và ở hiệu quả nghệ

thuật mà mà nó tạo ra khi so sánh với một thể loại gần gũi với tiểu thuyết.

Là một “lát cắt đời sống”, nhiệm vụ chính của truyện ngắn không phải

là trình bày đầy đủ một bức tranh rộng lớn về xã hội mà chủ yếu tập trung thể

hiện một khoảnh khắc, một bước ngoặt quan trọng nào đó của đời sống, của

đời người.Vì vậy, chất lượng nghệ thuật của truyện ngắn thường được yêu

cầu ở sự chọn lọc, cô đúc, tiết kiệm. Khi sáng tác truyện ngắn, nhà văn cần

chọn lựa ngôn từ; tìm kiếm các chi tiết tiêu biểu nói hết cho tác phẩm; nhân

vật. Kết cấu của một truyện ngắn hay đòi hỏi phải có sự chặt chẽ, đảm bảo

cho sự thống nhất cao độ để có thể tạo nên một hiệu quả nghệ thuật duy nhất.

Từ đó, truyện ngắn tạo nên một ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Nói

như Nguyễn Minh Châu “Chỉ cần ít trang văn xuôi…có thể làm nổ tung trong

tình cảm và ý nghĩ của người đọc những điều rất sâu xa và da diết của con

người, khiến người đọc phải nhớ mãi, suy nghĩ mãi, đọc đi đọc lại vẫn không

thấy chán”.[6; tr313].

Trong sự nghiệp sáng tác, Nguyễn Minh Châu nghiêng về thể loại tiểu

thuyết hơn là thể loại truyện ngắn. Tuy nhiên, không vì thế mà nói rằng truyện

ngắn ít có vai trò hơn trong việc làm nên tên tuổi của ông. Nhà nghiên cứu

Phạm Vĩnh Cư, trong một bài viết của mình về truyện ngắn Nguyễn Minh

Châu, tuy không phủ nhận những thành tựu của mảng tiểu thuyết nhưng vẫn

cho rằng: “…cái mà nhà văn để lại cho đời lại không phải là những tác phẩm

dài hơi ấy, mà là dăm ba truyện ngắn in rải rác trên báo chí, trong các tập

truyện cuối đời của anh” [6; tr.346]. Đi vào tìm hiểu sự nghiệp sáng tác văn

chương của Nguyễn Minh Châu qua hai giai đoạn, nhất là giai đoạn sau 1975,

ta thấy truyện ngắn có một vị trí đặc biệt trên nhiều bình diện: lượng, chất,

11

nhịp độ chuyển biến, khả năng thể hiện tư tưởng nghệ thuật đáp ứng tinh thần

“tiên phong” trong hoạt động sáng tác của nhà văn,…

Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thời gian, không

gian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc về

cuộc đời và tình người. Kết cấu của truyện thường là một sự tương phản, liên

tưởng và bút pháp trần thuật thường là chấm phá.

Đặc điểm quan trọng của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung

lượng lớn đối với lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo ra cho tác phẩm những

chiều sâu chưa nói hết. Các đặc điểm đó khiến sắc thái ngôn ngữ trong truyện

Xem thêm :  Kinh nghiệm đi Vinpearl Land Nha Trang vui chơi quên lối về

ngắn có những đặc thù riêng.

Ngoài ra giọng điệu cũng hết sức quan trọng làm nên cái hay của truyện

ngắn.

Có thể nói đặc trưng của thể loại đã chi phối đặc trưng ngôn ngữ của

truyện ngắn như một yêu cầu ngôn ngữ truyện ngắn phải chính xác, hàm súc

có độ nén cao, đa nghĩa.

Như vậy, những đặc trưng truyện ngắn đã đưa thể loại này thành một

thể loại dân chủ, gần gũi với đời sống thường ngày, lại súc tích, dễ đọc, gắn

liền với hoạt động báo chí, có tác dụng, ảnh hưởng kịp thời trong đời sống. Là

thể loại có khả năng cập nhật và thích ứng linh hoạt trong quá trình phát triển

của mình, truyện ngắn hiện đại cũng đã dung chứa và bao hàm những đặc

điểm của nhiều thể loại khác. Nhìn sang tiểu thuyết, kịch, thơ trữ tình…truyện

ngắn đã biết chọn cho mình mọi khoảng dung lượng, mọi phong cách khác

nhau để làm tròn vai trò của một thể loại nhanh nhạy đi đâu trong việc đáp

ứng những yêu cầu của đời sống – xã hội.

1.2. Nguyễn Minh Châu và quá trình sáng tạo nghệ thuật

1.2.1. Vài nét về tác giả Nguyễn Minh Châu

Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989) quê huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ

An. Ông là một trong những cây bút văn xuôi tiêu biểu của văn học thời kỳ

Xem Thêm :   Top 10 Sách Hay Về Tư Duy Logic nên đọc tốt nhất hiện nay (Tư vấn mua 2021)

12

chống Mĩ. Năm 1945, ông tốt nghiệp trường Kỹ nghệ Huế với bằng Thành

chung. Tháng 1 năm 1950, ông học chuyên khoa trường Huỳnh Thúc Kháng

tại Nghệ Tĩnh và sau đó gia nhập quân đội, học ở trường sỹ quan lục quân

Trần Quốc Tuấn. Từ năm 1952 đến 1956, ông công tác tại Ban tham mưu các

tiểu đoàn 722, 706 thuộc sư đoàn 320. Từ năm 1956 đến 1958, Nguyễn Minh

Châu là trợ lý văn hóa trung đoàn 64 thuộc sư đoàn 320. Năm 1961, ông theo

học trường Văn hóa Lạng Sơn. Năm 1962, Nguyễn Minh Châu về công tác tại

phòng Văn nghệ quân đội, sau chuyển sang tạp chí Văn nghệ quân đội. Ông

được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam năm 1972.

Vốn là một sĩ quan tham mưu trong quân đội, Nguyễn Minh Châu sống và

làm việc trước hết với tư cách là người lính, nhưng lại viết văn. Cũng như

nhiều nhà văn mặc áo lính cùng thời, công việc sáng tạo đòi hỏi người cầm

bút phải có nhiều lăn lộn thực tế ở những nơi đầu sóng ngọn gió, ông đã tham

gia nhiều chiến dịch, đã từng trải qua nhiều khó khăn gian khổ ở rừng Trường

Sơn. Hòa bình lập lại, ông cũng đi nhiều nơi, vào thành phố Hồ Chí Minh rồi

trở ra Hà Nội, nhưng có lẽ dải đất miền Trung mới là miền đất để lại cho ông

nhiều yêu thương nhất. Những năm cuối đời, ông còn ấp ủ dự định viết một

cuốn tiểu thuyết của cuộc chiến ở thành cổ Quảng Trị, rất tiếc ông không thể

hoàn thành vì ông đột ngột ra đi khi đang ở giai đoạn tài năng chín muồi nhất.

Sau hơn một năm trời vật lộn với căn bệnh ung thư máu hiểm nghèo, ông đã

vĩnh viễn chia tay cuộc đời vào ngày 23 tháng 1 năm 1989 tại viện Quân y

108 Hà Nội.

Với những đóng góp của mình với nền văn học Việt Nam, Nguyễn

Minh Châu đã nhận được nhiều giải thưởng trong đó có Giải thưởng Hồ Chí

Minh về văn học và nghệ thuật năm 2000.

13

1.2.2. Quá trình sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu

Là một nhà văn quân đội, tiểu thuyết và truyện ngắn của Nguyễn Minh

Châu viết nhiều về đề tài chiến tranh như một điều tất yếu. Tác phẩm Dấu

chân người lính của ông từ lúc ra đời đã được bạn đọc và giới nghiên cứu

đánh giá cao, được xem như là một trong những tiểu thuyết tiêu biểu về thời

kì chống Mĩ. Bám sát hiện thực đời sống những năm chiến tranh, các sáng tác

của Nguyễn Minh Châu trước 1975 với những sáng tác: Cửa sông, Những

vùng trời khác nhau…đã cho chúng ta cái nhìn tương đối trọn vẹn về một thời

kì hào hùng của dân tộc.

Sau 1975, hiện thực cuộc sống đòi hỏi văn học phải có sự nhìn nhận

toàn diện và thấu đáo hơn. Là một nhà văn luôn có ý thức gắn bó với đời

sống, nhạy cảm với những thay đổi của thời cuộc. Nguyễn Minh Châu đã sớm

nhận ra những vấn đề mới của đất nước ngay vào thời điểm chuyển giao từ

chiến tranh sang hòa bình. Ông có nhiều chuyển biến ngoạn mục với nhiều

tìm tòi đổi mới về tư tưởng và nghệ thuật. Nhà văn Nguyên Ngọc từng nhận

định “ Nguyễn Minh Châu thuộc số những nhà văn mở đường tinh anh và tài

hoa nhất của văn học ta hiện nay” [11]. Ngòi bút của nhà văn đã khiến ông

mạnh dạn đề cập đến hiện thực nhức nhối của đời sống xã hội sau chiến tranh

với những tác phẩm nổi bật như: Những vùng trời khác nhau (tập truyện,

1970), Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (tập truyện, 1983), Chiếc

thuyền ngoài xa (tập truyện, 1987).

Bằng tài năng và tâm huyết của một nhà văn luôn trăn trở với sự nghiệp

văn học nước nhà, Nguyễn Minh Châu đã thể hiện những thay đổi trong tư

duy nghệ thuật của mình qua hàng loạt tác phẩm. Những truyện ngắn viết vào

những năm 80 của thế kỉ XX in trong các tập Người đàn bà trên chuyến tàu

tốc hành, Bến quê, Cỏ lau của ông tạo nên một hiện tượng mới lạ trong văn

học đương đại. Đánh giá về vai trò của Nguyễn Minh Châu đối với văn học

14

sau 1975, nhà văn Nguyên Ngọc trân trọng khẳng định: “thời gian, nhà phê

bình nghiêm khắc và công công bằng ấy rồi sẽ xác định lại đúng đắn hơn nữa

vị trí của Nguyễn Minh Châu. Song tôi nghĩ, hôm nay cõ lẽ cũng đã có thể nói

không sai rằng Nguyễn Minh Châu thuộc số những nhà văn mở đường tinh

anh và tài năng nhất của văn học ta hiện nay”[12].

Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực. Mỗi nền văn học, mỗi giai

đoạn phát triển của lịch sử dân tộc đều có những hiện thực lớn, bao trùm, thu

hút sự quan tâm của xã hội nói chung, của các nhà văn nói riêng trong đó có

Nguyễn Minh Châu. Hiện thực bao trùm và bức xúc nhất của giai đoạn trước

năm 1975 là hiện thực đời sống chính trị xã hội với hai nội dung chính: cuộc

chiến tranh vệ quốc và công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa thì sau năm 1975

sáng tác của Nguyễn Minh Châu chuyển dần từ mạch cảm hứng sử thi sang

mạch cảm hứng thế sự. Tư duy nghệ thuật hướng nhiều về đời tư với nhu cầu

khám phá các vùng sáng – tối, thiện – ác trong con người. Chất liệu đời

thường ùa vào trong văn học cùng lối văn giản dị, chính xác, gọi đúng tên sự

vật, hiên tượng.

Từ những năm 80 trở đi, Nguyễn Minh Châu có sự tìm tòi, thể nghiệm

mới. Quan niệm mới về nghệ thuật đã chi phối làm thay đổi cách kiến tạo

ngôn ngữ. Tạo nên một không gian nghệ thuật mới ở đó nhà văn vừa là chủ

thể sáng tạo vừa là phát ngôn chủ thể giao tiếp tạo ra những cuộc đối thoại gọi

mời sự đồng sáng tạo. Cũng theo đó, những sáng tạo ngôn ngữ đồng thời đưa

nhà văn lên một vị trí mới trở thành nhà tư tưởng.

Có thể nói, với sự đào sâu vào đặc trưng của thể loại văn học cùng các

tính sáng tạo độc đáo truyện ngắn, Nguyễn Minh Châu đã đạt tới nét tiêu biểu

của truyện ngắn. Với dung lượng ngắn, truyện ngắn có một khả năng bao quát

hiện thực với những chi tiết, tính cách, nhân vật, kết cấu, cốt truyện mang tính

điển hình cao độ và sức khái quát cao tạo một sức liên tưởng mạnh mẽ nơi

15

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Review Sách

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button